Chủ Nhật Buồn – Szomorú Vasárnap (II)- Online Radio

Bài Viết Về Ch ủ Nh ật Bu ồn (II)

Chủ nhật buồn, tôi im hơi
Vì đợi chờ không nguôi ngoai
Bước chân người nhớ thương tôi,
Đến với tôi thì muộn rồi!
Trước quan tài, khói hương mờ
Bốc lên như vạn ngàn lời.
Dẫu qua đi, mắt tôi cười
Vẫn đăm chiêu nhìn về người.

Chương trình Vòng Quanh Thế Gii phát thanh trên mng do AV Travel thc hin.

 Chương trình phát ngày 30 tháng 8, 2012 lúc 11g sáng (giờ miền Tây Hoa Kỳ)

 Xin bm vào link dưới đây đ nghe và ph biến cho bn bè, người thân.

Chủ Nhật Buồn – Szomorú Vasárnap (II) 08/30 by AV Travel | Blog Talk Radio.

Bài Viết Về Chủ Nhật Buồn (II)

Chủ Nhật Buồn – Ca Khúc Chết Người (II)

Thành công của thi phẩm “Chủ Nhật Buồn” vượt xa mọi mong đợi. Cố nhiên, ngoài sự đau khổ của Jávor László, cần một ai khác phổ nhạc cho những vần thơ tang tóc đó.

Ấy là Seress Rezső, một nhạc sĩ tự học, vụng về nhưng thiên tài: từ Quận VII bùn lầy nước đọng của thủ đô Budapest, ông đã có một bài ca được các cây đại thụ trong làng nhạc quốc tế xưng tụng.

Chỉ cần nhắc một vài cái tên – Louis Armstrong, Bing Crosby, Frank Sinatra hay Ray Charles, và sau đó, hễ một ngôi sao quốc tế nào đưa “Chủ Nhật Buồn” (Gloomy Sunday) vào chương trình của mình, thì họ đã cầm chắc trong tay sự thành công.gloomy-sunday-billie-holiday-suicide-song

Chào đời năm 1899 trong một gia đình gốc Do Thái, tên thật là Spitzer Rudi, tác giả phần nhạc “Chủ Nhật Buồn” thường được gọi với cái tên “Seress bé nhỏ” vì ông chỉ cao hơn 1m55 chút đỉnh. Cả đời chỉ chơi nhạc  buổi tối ở Kulacs và Kispipa, hai tiệm ăn nhỏ và đầy khói thuốc lá ở Budapest, nơi đầu thập niên 30 từng là nơi gặp gỡ của tầng lớp tiểu thị dân nghèo khó gồm những cặp tình nhân rách mướt, những anh tài-xế say xỉn và những chị gái điếm rẻ tiền.

Như hồi tưởng của người đương thời, chỉ ở giữa tiệm ăn họa chăng còn chút hơi ấm của chiếc lò sưởi gạch màu nâu, chứ khách khứa ngồi gần cửa ra vào vẫn phải mặc nguyên áo khoác vì lạnh lẽo. Hầu như thực khách không mấy khi thấy rõ Seress ngồi khuất sau chiếc dương cầm.

Miệng phì phép thuốc lá, giọng khản đặc, chỉ chơi dương cầm kiểu “mổ cò” với hai ngón của bàn tay phải, lần mò tìm nốt nhạc, vậy mà theo lời kể của người đương thời, hàng ngày, từ 6 giờ tối đến rạng sáng, Seress đã tạo nên một bầu không khí “bốc lửa” tại nơi ông chơi nhạc.

Sức hấp dẫn của ông là ở đó: cuốn sổ lưu niệm của ông, với thủ bút và ý kiến của những nhân vật lừng danh đương thời cũng xác nhận điều này. (Seress có một cuốn “Sổ vàng” bọc lụa đỏ mà sau khi ông mất, những kẻ thừa kế – trong cơn thất vọng tràn trề – đã quẳng đại vào sọt rác.

Hầu như đó là một cẩm nang “Who Is Who?” của thế kỷ XX với những tên tuổi như Arthur Rubinstein, Jascha Heifetz, Arturo Toscanini, Luchino Visconti, Spencer Tracy, Wallace Beery, Sonja Hennie, John Steinbeck, Louis Armstrong, Ray Charles, Paul Robeson, Cyrus Eaton, U Thant, Benjamino Gigli, Conrad Veldt, George Cukor…) .

Ngắn gọn, mà có lẽ chính xác hơn cả, là nhận xét của Otto Klemperer, nhạc trưởng lừng danh người Đức: “Không phải nhạc sĩ – chỉ là thiên tài” (Er ist kein Musiker – er ist ein Genie). Hẳn phải là như thế, vì trong 40 năm ròng rã của đời nghệ sĩ, Seress không hề biết viết, biết đọc bản nhạc, ông cũng không biết hát theo nghĩa thực của từ này.

Điều khiến ông thường xuyên có mặc cảm và lo lắng, nhất là khi biết có một nhạc sĩ nổi tiếng nào đó đặt chân đến cái tiệm ăn tồi tàn để nghe ông, là Seress cũng chẳng biết chơi dương cầm một cách “tử tế”. Ấy vậy mà ông vẫn liên tục cho “ra lò” những ca khúc mà đa phần đều rất được ưa chuộng!

Cách sáng tác của Seress cũng đặc biệt: vừa huýt sáo, ông vừa ngẫm nghĩ và khi được giai điệu nào “hợp lý”, ông nhờ người ghi lại thành bản nhạc. Thô sơ vậy mà trong đa số các trường hợp, chỉ trong ít ngày, từ cậu bé đánh giày, chị người ở đến các bà, các cô thị dân đều hát theo điệu nhạc của Seress, một thành công chắc chắn của sự thành công! Cố nhiên, trong số đó thì “Chủ Nhật Buồn” là đỉnh cao! Cho dù, không ít người đương thời cho rằng Seress còn ít nhất 40 ca khúc khác, không tồi hơn, thậm chí, có thể còn hay hơn “Chủ Nhật Buồn”!Gloomy_sunday_VI_by_classically_fragile_large

Cuộc đời Seress đầy những chi tiết nổi trôi, và thực ra chúng ta cũng không biết được nhiều về ông. Thời thanh niên, qua tấm hình trên tờ quảng cáo, do mê một nữ tài tử xiếc uốn dẻo trên không mà Seress bỏ nhà theo một gánh xiếc và chỉ nhờ một may mắn kỳ lạ mà chàng trai ấy đã không bỏ mạng trong một buổi tập.

Về sau, Seress học kịch nghệ và biểu diễn tại một đoàn kịch ở Budapest trong vòng 9 năm. Tại đây, ông tìm thấy một chiếc dương cầm cũ nát và thử những giai điệu đầu tiên trên đó. Lũ trẻ rong chơi ngoài phố, giới quân nhân nghỉ phép và các cô cậu giúp việc là những thính giả đầu tiên của Seress: những tràng pháo tay tán thưởng các ca khúc ngẫu hứng do Seress sáng tác đã khích lệ ông chuyển hẳn sang con đường âm nhạc.

Năm 1925, nhạc phẩm “Một Đêm Nữa” (Még egy éjszakát) khiến tên tuổi Seress được biết đến trên toàn nước Hung; 16 ngàn bản nhạc được bán ra và đây là kỷ lục thời đó ở Hungary. Năm 1935, báo chí viết về Seress như sau:

Ở nước ngoài, nếu một nhạc sĩ chỉ sáng tác được một phần tư số ca khúc được ưa thích so với Seress, thì người ấy hẳn phải sống vương giả, có nhà lầu 6 phòng, xe hơi, và có thể lựa chọn các hợp đồng phim. Còn Seress thì chơi dương cầm ở một quán nhỏ, thù lao “vương giả” mỗi tối là vài đồng và một bữa tối thanh đạm”.

Cần biết là thời ấy, muốn sống thoải mái, người Hung cần độ 200 Ft hàng tháng. Ấy vậy mà Serres không buồn ra nước ngoài để nhận thù lao từ các bản nhạc và đĩa hát được bán ra của ông, cho dù, chỉ riêng tại Ngân hàng Irving Trust, người ta đã giữ cho ông khoản tiền 370 ngàn USD (gần 1 triệu rưởi Ft)!

Các hợp đồng béo bở của ngoại quốc không khiến ông động lòng, Seress cũng không buồn đến dự buổi hòa nhạc ngày lễ tại Carnegie Hall, cho dù người Mỹ rất muốn tận mắt được thấy tác giả “Chủ Nhật Buồn” trong dịp đó! Lẽ ra, Seress đã có thể sống giàu có, tiếng tăm như ông hằng mơ ước – vậy mà ông đã lựa chọn những tiểu thị dân, những cô sen, những cậu bé đánh giày.  Hàng ngày cứ đúng 6 giờ lại  vào quán nghe ông chơi đàn và hát.

Cuối Đệ nhị Thế chiến, vì nguồn gốc Do Thái của mình, Seress Rezső bị bắt vào trại tập trung và phải xa Pest trong vòng 4 năm; đây có lẽ là lần duy nhất ông xa nhà. Trong khoảnh khắc kinh hoàng, khi phải tự đào hố chôn mình ở trại tập trung, một sĩ quan Đức từng nghe ông hát “Chủ Nhật Buồn” tại Budapest đã cứu ông khỏi cái chết chắc chắn.

Sau năm 1945, nước Hung đứng về phe bại trận và gia sản không nhỏ của Seress tại các ngân hàng Mỹ đã bị “đóng băng” với lý do nước Hung phải bồi thường thiệt hại chiến tranh cho Đồng minh! Chưa hết, nhiều năm dưới thời XHCN, cạnh những nhạc sĩ lừng lẫy của nước Hung như Liszt Ferenc, Bartók Béla, Kodály Zoltán cái tên Seress Rezső cũng bị đưa vào danh mục cấm vì chính quyền cộng sản cho rằng các sáng tác của ông mang yếu tố độc hại, hơn nữa, theo cách nói thời bấy giờ, chúng “phục vụ cho chủ nghĩa đế quốc”.

Năm 1956, khi mấy trăm ngàn dân Hung di tản sau cuộc cách mạng mùa thu bị Liên Xô đàn áp, Seress đã có thể ra nước ngoài và bạn bè ông cũng khuyên nhà nhạc sĩ như vậy. Nhưng không gì khiến ông rời nước Hung! Seress nói nửa đùa nửa thật: “Tôi không dám lên máy bay vì sợ độ cao – đứng ở vỉa hè mà tôi cũng đã cảm thấy hoảng rồi! Hơn nữa, tôi có một giấc ác mộng là sẽ bị chết trong một tai nạn máy bay!

Nói vậy, chứ sự thực là có hàng ngàn lý do khiến Seress không bao giờ muốn rời bỏ đất nước. Ông yêu vô cùng mảnh đất Budapest: trong 10 năm cuối đời, không bao giờ ông bước khỏi Quận VII nơi ông sinh sống và chơi nhạc. Ông đã quá yêu những con phố Pest, như trong ca khúc viết năm 1933:

Có một con phố
Nơi tôi tới để khóc
Đừng ai hay tôi chờ đợi ai
Có một con phố
Nơi chôn vùi hạnh phúc của tôi
Nước mắt tuôn trào xuống đá lạnh

Có một con phố
Ở Pest, chỉ toàn điềm gở
Vậy mà, hàng đêm
Tôi vẫn tới, âm thầm
Nơi chôn vùi hạnh phúc của tôi
Nước mắt tuôn trào xuống đá lạnh . 

(”Con phố Pest”, Pesti utca)

Một điều nữa: Seress coi mình là một thi sĩ và với ông, một anh đánh giày, một chị nướng bánh mì hay bất cứ ai đều có thể rời quê hương, chỉ thi sĩ thì không! Và Seress biết, ở Hung, những khán thính giả bình dân không bao giờ rời bỏ ông! Nhất là, tại đó, ông có Helénke, cao hơn ông cả hai cái đầu, từng được coi là phụ nữ đẹp nhất Budapest, người đã rời bỏ chồng là một đại tá hồi hưu sung túc để theo chàng nhạc sĩ nghèo với niềm tin sẽ có ngày Seress được vinh hiển!Gloomy Sunday Title

Sáu mươi chín tuổi, tháng 1-1968, khi biết mình lâm trọng bệnh, Seress đã tìm đến cái chết vào một ngày thứ Hai buồn bã bằng cách nhảy từ cửa sổ căn hộ ông sống, tại tầng 4 một tòa nhà.

Được đưa vào viện và vật lộn với vết thương nhiều ngày trời, Seress lại tìm cách tự thắt cổ bằng sợi dây thép để ra đi nhanh chóng hơn. Cả đời bị ám ảnh bởi cái chết, bài ca do ông phổ nhạc và đặt một lời cũng là một “tình ca chết chóc”, ấy vậy mà chính cái chết đã đưa Seress vào bất tử, như bản “Chủ nhật buồn” trước đó 35 năm.

“Chủ Nhật Buồn” được biết đến ở Việt Nam từ đầu thập niên 50, qua lời Việt của nhạc sĩ Phạm Duy. Nhạc sĩ cho biết:

Trong thời gian du học ở Pháp, tôi rất yêu những bản nhạc tình của một nữ nhạc sĩ đang nổi tiếng tên là Nicole Louvier và có soạn lời tiếng Việt cho một số bài của cô ta. Rất buồn là tôi đã quên hết. Nhưng tôi nhớ là có vì cô mà soạn lời cho một trong những bài nhạc tình buồn nhất của thế giới.  Đó là bài SOMBRE DIMANCHE, được phóng tác từ nhạc dân ca Hung-Gia-Lợi. Bài này có hơi nhạc rất gần gũi với hơi nhạc của Nicole Louvier. Người đời có tạo một huyền thoại về bài CHỦ NHẬT BUỒN phóng tác từ nhạc bohémien này, nói rằng đã có người tự tử khi nghe bản nhạc.” (trích “Ngàn lời ca khác”).

Trong vòng hơn 50 năm qua, cho dù ca khúc này tương đối khó hát, nhiều thế hệ ca sĩ miền Nam và hải ngoại – từ Khánh Ly, Sĩ Phú, Chế Linh, Duy Quang đến Thiên Phượng đã trình diễn “Chủ Nhật Buồn” qua lời Việt Phạm Duy. Ca từ của bản tiếng Việt, mặc dù, như lời Phạm Duy, là được phỏng theo bản tiếng Pháp, nhưng lại theo sát và phản ánh tinh thần của nguyên bản một cách tài tình và đáng phục:

Chủ nhật buồn, đi lê thê
Cầm một vòng hoa đê mê.
Bước chân về với gian nhà,
Với trái tim cùng nặng nề.
Xót xa gì? Oán thương gì?
Đã biết nuôi hương chia ly.
Chót say mê đã yêu thì
Dẫu vô duyên còn nặng thề.

Ngồi một mình, nghe hơi mưa,
Mặc lệ tràn câu thiên thu.
Gió hiên ngoài nhắc một loài
Dế dun hoài ru thương ru.
Ru hỡi ru hời!

Bài ca do Phạm Duy đặt lời, nhiều người không để ý, có thể tưởng nó là “thuần Việt”, vì nó được du nhập vào Việt Nam đúng lúc đất nước phân ly, lòng người tan nát và tao loạn. Như nhạc sĩ Phạm Duy nhận xét, “Chủ Nhật Buồn” có thể đã ảnh hưởng nhiều đến dòng nhạc tình nói về thân phận những cặp tình nhân yêu nhau trong cơn mê sảng và nhức nhối, với tâm thức có thể xa nhau (vĩnh viễn) bất cứ lúc nào, xuất hiện ở miền Nam cuối thập niên 50 thế kỷ trước.

Dòng nhạc tình ấy, hẳn nhiên, không còn phản ánh thứ “tình xanh khi chưa lo sợ” của các nhạc sĩ tiền chiến như Lê Thương, Lê Yên, Hoàng Giác, Dzoãn Mẫn, Đoàn Chuẩn, mà “đã trở thành não nề và đánh vào não tính”. Phạm Duy nhìn thấy ảnh hưởng và dấu ấn khá rõ ràng của “Chủ Nhật Buồn” trong “Lời Buồn Thánh”, một nhạc phẩm tân lãng mạn của Trịnh Công Sơn:

Chiều chủ nhật buồn,
Nằm trong căn gác đìu hiu,
Ôi tiếng hát xanh xao của một buổi chiều,
Trời mưa, trời mưa không dứt,
Ô hay mình vẫn cô liêu…

Hoặc giả, vẫn là Trịnh Công Sơn, trong nỗi buồn của ngày Chủ Nhật mùa mưa ở “Tuổi Đá Buồn”:

Trời còn làm mưa, mưa rơi mênh mang,
Từng ngón tay buồn em mang em mang,
Đi về giáo đường, ngày Chủ nhật buồn…

Gần đây nhất, ở trong nước, nhóm nhạc AC&M – trong album “Những Ca Khúc Bất Tử” – cũng đã đem lại một nét mới cho bản tình ca này, và đây có lẽ cùng là lần đầu tiên sau 1975, “Chủ Nhật Buồn” chính thức xuất hiện ở Việt Nam. Và, kể từ khi mạng Internet toàn cầu được phổ biến, giới trẻ Việt Nam hiện nay cũng đã có dịp biết đến những huyền thoại, những mẩu chuyện – có khi rùng rợn – xung quanh “bài ca chết người” này.Seress Tombstone

Cho dù không phải tất cả những thông tin vàng thau lẫn lộn ấy trên mạng đều là xác tín, thì một bài ca ở thuở xa xưa, ra đời khi nền Tân nhạc Việt Nam còn chưa chính thức xuất hiện, ngày nay đã đi vào sự hiểu biết của người yêu nhạc Việt Nam một cách rộng rãi, như thế.

Chủ Nhật Buồn – Szomorú Vasárnap (II) 08/30 by AV Travel | Blog Talk Radio.

Hoàng Linh

Petőfi Sándor – Online Radio

Painting of Petofi Sandor_1844 by Orlay

Vùng lên dân Hung
Tổ quốc vẫy gọi
Thời cơ đã đến
Giờ, hay không bao giờ
Sẽ là nô lệ
Hay người tự do
Câu hỏi là đây
Bạn hỡi, lựa chọn!

Hỡi thánh thần của người Hung
Chúng con xin thề
Sẽ không bao giờ chịu kiếp nô lệ!

Chương trình Vòng Quanh Thế Gii phát thanh trên mng do AV Travel thc hin.

 Chương trình phát ngày 28 tháng 8, 2012 lúc 11g sáng  (giờ miền Tây Hoa Kỳ)

 Xin bm vào link dưới đây đ nghe và ph biến cho bn bè, người thân.

Sándor Petőfi – Hungarian Poet 08/28 by AV Travel | Blog Talk Radio.

Bài Viết Về Thi Sĩ Petőfi Sándor

Petőfi Sándor

Thi  Sĩ của Tự Do và Ái Tình

Nếu ai đó nói bằng tiếng Hung từ “thi sĩ”, người đó trước hết đã nghĩ đến Petőfi. Kể từ khi bước chân vào văn đàn, ông hiện diện không ngừng ở đó. Ông là tấm gương và là thước đo”.

Không thể biết tiếng Hung, nếu không thuộc ít nhất dăm bảy khổ thơ Petőfi. Và cuối cùng, ông là thi sĩ vĩ đại nhất của Hungary trên trường quốc tế: nếu một người ngoại quốc có chút hiểu biết văn hóa nghe đến từ “văn học Hung”, trước tiên, họ phải nghĩ đến Petőfi!”.

Portrait of Petofi Sandor by OrlayĐó là những từ trân trọng mà nước Hung đã dành cho Petőfi Sándor, nhà thơ, vị anh hùng dân tộc, một trong những người con ưu tú nhất của xứ sở này, mà độc giả Việt Nam đã có dịp biết tới qua những vần thơ hào sảng của thi phẩm “Tự do, Ái tình” (Szabadság, szerelem).

Cuộc đời Petőfi đã trở thành huyền thoại và hầu như, mọi người dân Hung đều biết tất cả về ông với sự sùng kính chân thành. Đời ông rộng mở và sáng tỏ như chính những vần thơ ông.

Petőfi sinh vào đúng đêm Giao-thừa năm 1823. Lúc sinh thời, trong 26 năm ngắn ngủi, Petőfi đã sáng tác hàng ngàn bài thơ với những chủ đề như tình yêu, lòng yêu nước, yêu tự do, dân chủ, ý chí dân tộc quật cường. Và, ông đã chứng tỏ sự xác tín trong tâm tình của mình bằng chính cuộc đời: tên tuổi ông gắn liền và rạng ngời với cuộc cách mạng giải phóng dân tộc 1848, với mục tiêu đưa nước Hung trở thành một quốc gia độc lập, theo thể chế Cộng hòa.

Petőfi hy sinh năm 1849 tại trận chiến chống quân Áo ở vùng Segesvár, trên tư cách một nhà cách mạng Hung mang tư tưởng cương quyết và cấp tiến nhất của thời đại ông sống, một thi sĩ của dân tộc, của châu Âu.

Không phải ngẫu nhiên mà tên tuổi Petőfi đã được đưa vào hàng những văn sĩ lớn của châu Âu thời bấy giờ, những người mang trong mình ngọn lửa dân chủ, cách mạng, như Byron (Anh), Pushkin (Nga), Heiné (Đức), Mickiewicz (Ba Lan) và Viktor Hugo (Pháp). Và, nếu chỉ hạn chế trong khuôn khổ văn học, tất cả những gì diễn ra sau đó trong nền thi ca Hung đều có khởi nguồn và xuất xứ từ ông!

Lần lại những trang lịch sử, Petőfi Sándor (tên thật là Petrovics Sándor) chào đời tại vùng Kiskőrös trong một gia đình lao động nghèo. Thuở nhỏ, ông học hành thất thường và đến năm 16 tuổi, bị cha từ, ông bắt đầu cuộc đời lang bạt của một lãng tử.

Làm giúp việc tại Nhà hát Quốc gia, ông đã có những năm tháng lăn lộn với nghề kịch nghệ. Năm 19 tuổi, ông đạt được thành công đầu tiên trong văn chương với bài thơ “Quán rượu” (A borozó). Cũng trong năm đó, lần đầu tiên, ông ký bút danh Petőfi dưới thi phẩm “Trên Đất Nước Tôi” (Hazámban).

Statue of Petofi in BudapestSống bần hàn, đói khát thường xuyên, nhiều bận, chỉ nhờ bạn bè giúp đỡ mà Petőfi Sándor mới thoát khỏi cảnh khốn cùng. Tuy nhiên, cũng nhờ cuộc đời phiêu bạt nay đây mai đó, ông có dịp đi bộ qua rất nhiều vùng – từ làng mạc đến thị thành – nước Hung, chứng kiến những cảnh đời bất hạnh và có những trải nghiệm mà ít người ở độ tuổi 20 như ông có được.

Trong những giờ khắc đầu của năm 1848 lịch sử, khi cả châu Âu rung chuyển vì những cuộc cách mạng dân chủ, Petőfi đã có trong mình những cảm xúc tràn đầy về tự do và tình yêu, như trong thi phẩm ngắn mà ông viết cho mình nhân ngày sinh nhật thứ 25 trước đó một năm: “Tự Do và Ái Tình – Vì Các Ngươi Ta Sống”. Vào khoảnh khắc ấy, ông thổ lộ: “Tôi cảm nhận cách mạng như chú cẩu cảm nhận cơn địa chấn.” Và, trong những vần thơ rực lửa, Petőfi Sándor đón chờ cuộc cách mạng toàn cầu vì một xã hội dân chủ, công bằng, vì nền độc lập của những xứ sở.

Petőfi Sándor đã đốt cháy mình trong cuộc cách mạng gắn liền với tên tuổi ông. Ngày 15-3-1848, “Ngày Petőfi” trong lịch sử Hung, trước Bảo tàng Quốc gia tại trung tâm thủ đô Budapest, thi sĩ đã đọc “Bài Ca Dân Tộc” (Nemzet dal), thi phẩm được coi là bài ca tượng trưng cho cuộc cách mạng dân chủ Hung.

Đó là một khúc hát bi tráng và hào hùng, với ngôn từ ngắn gọn và mang âm hưởng hồi kèn chiến đấu, có sức mạnh như một đạo quân, trong trận chiến đòi các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, đòi quyền độc lập dân tộc.

Vùng lên dân Hung
Tổ quốc vẫy gọi
Thời cơ đã đến
Giờ, hay không bao giờ
Sẽ là nô lệ
Hay người tự do
Câu hỏi là đây
Bạn hỡi, lựa chọn!

Hỡi thánh thần của người Hung
Chúng con xin thề
Sẽ không bao giờ chịu kiếp nô lệ!

Từ những trường học, những tiệm cà phê, cùng thi hào Petőfi và bản “Yêu Sách 12 Điểm”, giới trẻ học đường đã lao vào một cuộc cách mạng lãng mạn nhưng không cân sức. Giới quý tộc, được sự trợ giúp của các thế lực quân sự nước ngoài, đã phản công dữ dội.

Một cuộc chiến bảo vệ độc lập và tự do dân tộc diễn ra và Petőfi Sándor, nhà thơ với những thi phẩm thấm đẫm tình yêu nước và tự do, đã không muốn đứng ngoài cuộc, cho dù bạn hữu ông ngăn cản, không muốn ông phải liều mình. Và, điều xấu nhất đã xảy ra đối với Petőfi và dân tộc Hung: 6 giờ chiều ngày 31-7-1849, thi sĩ của tình yêu và lòng ái quốc đã ngã xuống trong một trận chiến ở vùng Segesvár, để lại đứa con thơ duy nhất vừa tròn nửa năm tuổi!

Đất nước Hung, trong một thời gian dài, không thể tin và không muốn tin vào sự ra đi vĩnh viễn của người con ưu tú của mình. Nhiều huyền thoại đã được truyền tụng, rằng Petőfi không hy sinh, ông chỉ bị bắt và đi đày ở Siberia, rằng ông đã trở về.

Illyés Gyula, nhà thơ nổi tiếng của Hung thế kỷ XX, một hậu duệ xuất sắc của Petőfi, đã viết như sau trong cuốn sách về Petőfi:

Các bạn có thể nói với một bà mẹ rằng con trai bà đã qua đời ở một miền xa xôi nào đó. Bà sẽ không tin. Và nếu bằng lý trí, với thời gian, bà đành bằng lòng với thực tế ấy, thì trong lòng bà, trái tim bà vẫn dội nên niềm hy vọng trước một nguồn tin ngược lại, cho dù nó vô lý đến đâu đi nữa, rằng con bà vẫn còn trên cõi đời này…

Thi ca và cuộc đời của Petőfi Sándor, vĩ nhân từ một xứ sở rất xa và lạ đối với Việt Nam, lại được biết đến rất sớm ở nước ta qua những bản dịch (với ngôn ngữ trung gian là tiếng Pháp) của nhiều nhà thơ Việt Nam như Xuân Diệu, Tế Hanh, Hoàng Trung Thông, Nguyễn Xuân Sanh và Vũ Tú Nam. Đặc biệt, mảng thơ của Petőfi về đề tài tình yêu và bổn phận ái quốc của người trượng phu thời ly lạc đã có ảnh hưởng rất lớn đến Phùng Quán, một gương mặt nổi bật của phong trào Nhân văn Giai phẩm thuở nào. Thi phẩm “Hôn” (1956) nổi tiếng của Phùng Quán, với những vần thơ rực lửa “Nhưng Dù Chết Em Ơi, Yêu Em Anh Không Thể, Hôn Em Bằng Đôi Môi, Của Một Người Nô Lệ” là một ví dụ điển hình về sự đồng điệu giữa tình cảm và tâm thế của hai nhà thơ, hai dân tộc cách nhau một khoảng rất xa về địa lý.petofi-sandor-and-szendrey-julia

Tên tuổi và sự nghiệp Petőfi Sándor được đất nước và dân tộc Hung gìn giữ và trân trọng, tên ông được đặt cho một trong bảy cây cầu bắc qua sông Danube, và vô số đường phố trên lãnh thổ Hung. Bức tượng ông được đặt ở trung tâm thủ đô Budapest, nhìn ra sông Danube, vẫn thường có những bó hoa tươi của khách thập phương.

Để kết thúc, mời bạn đọc theo dõi bản dịch Việt ngữ một thi phẩm xinh xắn của Petőfi Sándor về tình yêu đôi lứa, để thấy rằng sự thể hiện tâm hồn và tình yêu của mọi dân tộc trên thế giới này cũng hàm chứa rất nhiều điểm tương đồng, giản đơn và nồng thắm. Đó là bài “Em Yêu Nhất Mùa Xuân” (Te a tavaszt szereted), được sáng tác năm tác giả 23 tuổi, ba năm trước khi ông ra đi:

Em yêu nhất mùa xuân
Anh yêu nhất mùa thu
Vì mùa xuân giống em
Vì mùa thu giống anh

Mặt em đỏ hồng hồng
Là dáng hồng xuân đấy
Ánh mắt em long lanh
Như ánh trời thu vậy

Nếu anh bước chân lên
Một bước, rồi bước nữa
Anh sẽ đến bên thềm
Của mùa đông giá lạnh

Nhưng nếu anh lùi về
Còn em thì bước tới
Ta sẽ gặp gỡ nhau
Giữa mùa hè chói lọi.

Sándor Petőfi – Hungarian Poet 08/28 by AV Travel | Blog Talk Radio.

Hoàng Linh

 Photos:

  • Portrait of Hungarian poet Sándor Petőfi, painted by Miklós Barabás.
  • Petőfi Sándor szobra Csíkszeredán. Szobotka András alkotása (1973), 2006, Csanady
  • Petőfi Sándor szobra Budapesten ,2006, Csanady
  • Petofi Sandor Debrecen, 1844th Orlay Petrics Soma paintings,1844.
  • Plaque to Sándor Petőfi in Gyula (Jókai Mór street 4.), 2011, Csurla
  • Petofi Sandor and his love, Szendrey Julia in Coltau, Transylvania, Romania

Madrid, Spain

Quyến Rũ Của Cổ Kính Trong Hiện Đại

Hành trình Vòng Quanh Thế Giới xin đưa bạn đọc đến thăm thành phố Madrid, thủ đô và cũng là thành phố lớn nhất Tây Ban Nha.

Là quốc gia có bề dày lịch sử và văn hóa, Tây Ban Nha luôn là xứ sở thu hút du khách bốn phương, với khoảng 60 triệu lượt người hàng năm. Trong đó, tất nhiên, thủ đô Madrid đã dự phần quan trọng với những thắng cảnh lừng danh thế giới, đó là Cung Điện Hoàng Gia và Nhà Hát Hoàng Gia Teatro Real, quảng trường Cibeles và Tam Giác Vàng Nghệ Paseo del Prado.Collage of Madrid

Vài năm gần đây trong các bảng phân loại, Madrid chiếm giữ vị trí thành phố lớn thứ ba trong Liên Minh Âu Châu và thứ tư của toàn Âu Châu, chỉ sau London và Berlin. Về địa lý, Madrid nằm trên bán đảo Iberian ven con sông Manzanares tại trung tâm của đất nước. Vẻ đẹp tân kỳ pha lẫn nét cổ xưa của thành phố cao nhất Âu châu (trên  mực nước biển 700 mét) luôn khiến những người đến đây lần đầu phải bàng hoàng và nhủ lòng quay lại.

Dân số của đaị đô thị Madried là 6 triệu rưỡi người. Được thành lập vào năm 852 với tên gọi “Majerit”, nghĩa là dòng nước chảy. Mãi tới năm 1561 thì thủ đô của Tây Ban Nha mới dời từ Toledo sang Madrid. Kể từ đó tới nay, vẻ sang trọng của thành phố ngày thêm được tô điểm bởi hàng loạt công trình kiến trúc và văn hoá mang tầm vóc thế giới.

Với khí hậu ôn hòa dễ chịu quanh năm, Madrid như một “chữ ký của tạo hóa” với các lâu đài kiến trúc mang phong cách từ thời Trung Cổ chen vai cùng các tòa cao ốc hiện đại giữa một màu xanh cây cỏ.

Mở đầu chuyến chinh phục Madrid từ quảng trường Cibeles (còn gọi là Quảng Trường Vòng Xoay). Một trong những biểu tượng chính của thành phố là bức tượng nữ thần Hy Lạp Cibeles trên chiếc xe với 2 con sư tử kéo. Tuyệt phẩm này được làm từ thế kỷ 17. Quảng trường Cibeles cũng là nơi bắt đầu của đại lộ Paseo del Prado. Con đường lớn nhất này của Madrid chính là nơi hội tụ của dân bản địa và du khách khi hoàng hôn buông xuống.

Tại góc quảng trường Cibeles là Palacio de las Telecomunicaciones, một trong những nhà bưu điện đẹp nhất thế giới!

Gần Quảng trường Cibeles là Tam Giác Vàng Nghệ Paseo del Prado. Đó là mỹ danh của chuỗi ba bảo tàng viện được coi là ba kho báu vô giá của văn hóa Tây Ban Nha cũng như của nhân loại gồm bảo tàng Thyssen – Bornemisza, bảo tàng Reina Sofia, bảo tàng El Prado.

Bảo tàng viện Thyssen – Bornemisza lừng danh năm châu bốn biển với những bức tranh của nhiều nghệ sĩ nổi tiếng nhất Âu châu vào thế kỷ 13. Bạn sẽ đắm mình trong nghệ thuật thời Phục Hưng và Baroque qua các danh tác của những tên tuổi như: Caravagio, Sebastiano del Piombo, Ruben, Van Dyck và cả bộ sưu tập của các danh họa như Van Gogh, Monet, và Renoir.

Kho báu kế tiếp sẽ còn “chôn chân” du khách là Bảo tàng viện Reina Sofia, với tên chính thức làBảo Tàng Viện Nghệ Thuật Quốc Gia Tây Ban Nha Thế Kỷ 20. Tại đây đang lưu giữ nhiều họa phẩm đặc sắc của 2 họa sĩ vĩ đại của Tây Ban Nha và thế giới,  Pablo Picasso và Salvador Dali. Đối với nhiều người đam mê hội họa thì họ chỉ cần chiêm bái bức tranh quý báu mang tên Guernica của Picasso tại đây, thì cũng có thể coi như đã “hoàn thành” chuyến viếng thăm Madrid!

El Tres de Mayo painting by Francisco de GoyaKho báu thứ 3 trong Tam Giác Vàng Nghệ Paseo del PradoBảo Tàng Viện El Prado Với hơn 1.300 tác phẩm. Bảo tàng viện El Prado hiên trưng bày nhiều danh phẩm Tây Ban Nha, đặc biệt là bộ sưu tập gần như hoàn thiện các tác phẩm của danh họa Francisco Goya và hai kiệt tác không thể thiếu là bức tranh Nàng Maja Khỏa Thân (“La Maja desnuda”; với tên quen thuộc bằng tiếng Anh là “The Naked Maja” hay “The Nude Maja”), “Ngày 3 tháng 5 năm 1808” (“El tres de mayo de 1808 en Madrid”, với  tên tiếng Anh là “The Third of May 1808”). Trải qua 200 năm, hiện nay Bảo tàng viện El Prado đón hơn 2 triệu khách mỗi năm – con số mơ ước cho bất kỳ bảo tàng nào muốn nổi danh trên thế giới!

Cung Điện Hoàng Gia Palacio de Real  là một công trình văn hóa và kiến trúc không thể nào bỏ qua với tất cả các tours du lịch tại Madrid. Ngay khi chọn Madrid làm kinh đô, nhà vua Tây Ban Nha đã ở tại lâu đài này. Thế nhưng vào Giáng sinh năm 1734, cả lâu đài bị cháy rụi và mãi 26 năm sau mới được xây cất lại. Nhờ đó, Madrid đã có một Cung Điện Hoàng Gia Palacio de Real mới với 2.800 phòng lộng lẫy. Du khách sẽ được xem các báu vật như các bộ áo giáp và dụng cụ chiến tranh được chế tạo từ thế kỷ 13 và đặc biệt một bộ đàn dây độc nhất trên thế giới với 5 chiếc hoàn chỉnh được chế tạo và xử dụng từ thế kỷ 17.

Plaza Mayor de MadridQuảng trường Plaza Mayor là một khuôn viên bao la hình chữ nhật, với những dãy nhà cổ có ban công kế tiếp nhau. Với 437 ban công, trước đây quảng trường có thể chứa được 50 ngàn người trong các lễ đăng quang, đấu bò, xiệc. Ngày nay, Quảng Trường Plaza Mayor chỉ dành cho người đi bộ, ngoài ra, trong từng khuôn viên nhỏ thì thường có những buổi hòa nhạc, vũ kịch , những nhạc sĩ trình diễn trên vỉa hè, họa sĩ bán tranh vẽ tại chỗ và các quán cà-phê lúc nào cũng đầy các vị khách nhàn tản.

Puerta de Son (Cổng Mặt Trời) được xem là trái tim của thủ đô Madrid. Tại đây có bức tượng được coi là biểu tượng của Madrid. Đó là một chú gấu trèo lên cây madrono. Dân chúng Madrid thường tụ tập về Cổng Mặt Trời để đón mỗi khi năm mới về.

Madrid còn là xứ sở của văn hoá và thể thao, với một trong những lễ hội tiêu biểu là Lễ Hội Hóa Trang Arnival sống động vào bậc nhất thế giới. Ở Tây Ban Nha, từ tháng 10 đến tháng 5 là thời gian diễn ra Giải vô địch túc cầu quốc gia, còn tháng 5 cũng là mùa thi đấu bò.

Đối với dư luận và báo chí thế giới, khi nói tới thành phố Madrid, điều đầu tiên là chuyện túc cầu với “thánh địa” Santiago Bernabéu! Du khách khó lòng bỏ lỡ cơ hội ghé vào sân vận động Santiago Bernabéu tại trung tâm của khu hành chính và kinh doanh đông đúc nhất thủ đô. Chỉ tới đó bạn mới hiểu được rằng, ở xứ sở Tây Ban Nha, túc cầu được người dân tôn sùng như một tôn giáo!

Tòa nhà Metropolis, trung tâm thương mại nổi tiếng của Madrid. Trên nóc tòa nhà là một bức tượng nữ thần có cánh. Toàn bộ tòa nhà Metropolischính là một kiệt tác kiến trúc với các trang trí từ đơn giản đến phức tạp; cho nên đó là nơi được nhiều du khách chụp hình nhất tại thủ đô của Tây Ban Nha.

Thắng cảnh khác thu hút khách thập phương là Đền Debod (Templo de Debod). Ngoài vẻ đẹp của nó, điều kỳ lạ là Đền Debod vốn là một ngôi đền cổ xưa của Ai Cập, rất gần ngọn thác lớn đầu tiên trên sông Nil. Thế rồi cả khu đền đã được tháo gỡ và mang về dựng lại trong một công viên đẹp nhất thủ đô Madrid. Lý do của kỳ tích này cũng thật cao cả. Chính phủ Ai Cập muốn tri ân công sức của người Tây Ban Nha về việc bảo tồn khu di tích Abu Simbel. Đền Debod là công trình hiếm hoi của người Ai Cập cổ đại nằm bên ngoài quốc gia này!

Vườn bách thảo Botanical Garden cũng là niềm tự hào của Madridvới khoảng 30 ngàn loài thực vật có mặt trên toàn cầu. Không xa đó là Công Viên Retiro với 130 héc ta chứa 15 ngàn loại cây cối.

Madrid còn làm mê hoặc bất cứ khách ngoại quốc nào bởi những nét văn hóa rất thường nhật. Thành phố thủ đô của vùng Nam Âu này còn có “phong tục” nữa là nơi thức khuya. Du khách đừng bất ngờ khi thấy ba, bốn giờ sáng mà phố xá vẫn bị kẹt xe!Symphonic Hall_ National Auditorium of Madrid

Thành phố trái tim của Tây Ban Nha luôn luôn hút hồn du khách bằng âm nhạc và các đoàn nhạc sĩ hành khất. Giống như các nước Âu châu khác, nhạc sĩ đường phố là một nét đặc trưng, nhưng có thể khẳng định là không ở đâu trên thế giới này lại nhiều nhạc sĩ “lang thang” như ở Madrid! Cả một không gian âm thanh tràn ngập khắp nơi, rất sống động và tự nhiên từ những khách sạn sang trọng đến các hẻm ngách, âm nhạc có mặt khắp Madrid.

Cho dù không phải là một thủ đô có lịch sử lâu đời nhưng Madrid là một thành phố hòa quyện nét cổ kính vào sự hiện đại trong một khí hậu và phong cảnh tuyệt vời và hội tụ được hầu hết các tinh hoa của văn hóa và văn minh nhân loại. Madrid quả là thành phố quyến rũ nhất của vùng Địa Trung Hải!

Đỗ Ngọc

Photos:

  •  Collage of Mardird, top left:Alcala Gate in Retiro area, Top middle:Campo del Moro Garden and Royal Palace in Bailen area, Top right:Madrid City Hall in Plaza de Cibeles, 2nd View of Alacala and Gran Vila street, 3rd left:Prado Museum, 3rd middle:Statue of Bear and Madrono in Puerta del Sol Square, 3rd right:Cervantes Institute Foundation Headquarter in Alcala area, Bottom:View of Royal Palace and Almudena Cathedral, 2011, Matrich.
  • Plaza Mayor in Madrid at dusk, 2008, Sebastian Dubiel.
  • Night view from the Plaza de Cibeles (square) in Madrid (Spain), with Christmas lights. Foreground: Fountain of Cybele. Background left: Metropolis Building.2007, Beamillion from Madrid.
  • Symphonic hall of the National Music Auditorium of Madrid, 2004, Los Mininos
  • El Tres de Mayo, The Third of May, 1814, Oil on Canvas,  Artist: Francisco de Goya.