Nguyễn Hữu Đang (II) – Online Radio

Nguyen Huu Dang_1997

Tưởng Nhớ, Kẻ Sĩ Bắc Hà – Phần 1

 Cách đây 5 năm, vào những ngày giáp Tết Đinh Hợi, Nguyễn Hữu Đang – một nhà hoạt động văn hóa và cách mạng lớn của Việt Nam thế kỷ 20 đã vĩnh viễn ra đi để lại nỗi tiếc thương cho giới sĩ phu Bắc Hà, mà ông từng là một trong những đại diện kiên cường và khí phách nhất.

 Chương trình Vòng Quanh Thế Gii phát thanh trên mng do AV Travel thc hin.

Chương trình phát ngày 28 tháng 9, 2012 lúc 11g sáng / trưa/ tối (giờ miền Tây Hoa Kỳ) 

Xin bm vào link dưới đây đ nghe và ph biến cho bn bè, người thân.

Nguyễn Hữu Đang (II) 09/28 by AV Travel | Blog Talk Radio.

Bài viết về “Nguyễn Hữu Đang (II)”

Tài liệu tham khảo thêm

 Bài viết về  “Nguyễn Hữu Đang (I)”

Nguyễn Hữu Đang (I) 09/19 by AV Travel | Blog Talk Radio.

Nguyễn Hữu Đang (II)

Tưởng Nhớ Nguyễn Hữu Đang, Kẻ Sĩ Bắc Hà – Phần 1

Cách đây 5 năm, vào những ngày giáp Tết Đinh Hợi, Nguyễn Hữu Đang – một nhà hoạt động văn hóa và cách mạng lớn của Việt Nam thế kỷ 20 đã vĩnh viễn ra đi để lại nỗi tiếc thương cho giới sĩ phu Bắc Hà, mà ông từng là một trong những đại diện kiên cường và khí phách nhất.  Là thủ lĩnh tinh thần và trong thực tế của phong trào Nhân văn Giai phẩm, Nguyễn Hữu Đang là một con người mà theo nhận định của giới trí thức cấp tiến Hà Thành, nền dân chủ, tự do của nước Việt sau này sẽ phải ghi danh ông.

Nguyễn Hữu Đang sinh ngày 15 tháng 8, 1913 trong một gia đình trí thức ở tỉnh Thái Bình. Từ thuở ấu thời, ông đã nổi tiếng là ham hiểu biết và học giỏi, yêu tự do và công bằng xã hội. Lòng mong mỏi cho quê hưong được độc lập khiến ông, từ khi là học sinh, đã tham gia những hoạt động yêu nước. Cuối năm 1930, ông bị Pháp bắt giam, nhưng chỉ bị quản chế vì chưa đến tuổi thành niên nên không thể ghép án tù.

Lên Hà Nội học Cao Đẳng Sư phạm, Nguyễn Hữu Đang được nâng cao tầm học vấn, trở thành một nhà hoạt động văn hóa lỗi lạc thời Mặt Trận Bình Dân. Cùng một lúc, ông viết và biên tập cho nhiều báo. Là một yếu nhân trong phong trào chống nạn thất học rồi tham gia sáng lập và chỉ đạo Hội Văn Hóa Cứu Quốc.

Ý thức được rằng một dân tộc chỉ có thể phú cường khi người dân có học thức, có hiểu biết, trong nhiều năm ròng, Nguyễn Hữu Đang bôn ba khắp Việt Nam trên cương vị lãnh đạo Hội Truyền bá Quốc ngữ và trở thành một diễn giả, một nhà hùng biện chuyên nghiệp và uyên thâm.nguyen-huu-dang of nhan van giai pham

Nhớ về những ngày tháng hào hùng này của ông, trong một thiên ký sự động lòng về Nguyễn Hữu Đang, nhà văn Phùng Quán đã viết: “[Ông] hoạt động công khai, ăn vận sang trọng như một công tử loại một của Hà Nội, thắt cà vạt đỏ chói, đi khắp Trung Nam Bắc diễn thuyết, oai phong, hùng biện.

Sau mốc lịch sử 19 tháng 8,1945, với uy tín và tài năng đang lên cao, đồng thời, có ảnh hưởng sâu sắc trong giới trí thức và các tầng lớp trên ở thành thị, Nguyễn Hữu Đang được cử làm Trưởng Ban Tổ Chức Ngày Độc Lập mùng 2 tháng 9, rồi tiếp tục giữ những trọng trách trong Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa như Thứ Trưởng Bộ Thanh Niên, Thứ Trưởng Bộ Thông Tin Tuyên Truyền. Trên cương vị Trưởng Ban Thanh Tra Bình Dân Học vụ, Nguyễn Hữu Đang đã có vai trò lớn trong việc phổ cập tri thức, học vấn cho người dân thất học ở những vùng xa xôi.

Tuy nhiên, chắc hẳn bản thân Nguyễn Hữu Đang cũng không thể ngờ rằng, vai trò lịch sử sáng chói của ông lại diễn ra vỏn vẹn trong vòng 2 năm, từ năm 1956 đến 1958, trên tư cách người thủ lĩnh nhóm Nhân Văn Giai Phẩm đấu tranh đòi quyền tự do, dân chủ và nhân phẩm trong sáng tạo, phản kháng sự đè nén, áp đặt của chính trị trong tư tưởng.

Có lẽ trong các yếu nhân của Nhân Văn Giai Phẩm, không ai ý thức được trọng lượng những gì mình làm, tranh đấu một cách sâu sắc và uyên bác như Nguyễn Hữu Đang. Điều này được phản ánh trong những dòng ông viết cho một nhà nghiên cứu ngoại quốc về phong trào Nhân Văn Giai Phẩm cuối năm 1998 tại Hà Nội, khi tác giả đã 86 tuổi,  “Ý thức, tư tưởng chủ đạo của phong trào là chống lại sự biến chất của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam từ chế độ chuyên chính thông thường đã bắt đầu có xu hướng hướng cực quyền (còn gọi là toàn trị) trong đó con người bị cưỡng bức toàn diện, triệt để nhiều khi tàn nhẫn đến vô nhân đạo, phi nhân văn, biến con người bị trị thành nô lệ của một tập đoàn thống trị ít người và duy ý chí tuy nhân danh cách mạng mà hành động, nhưng hiệu quả khách quan của hành động lại phản tiến hóa.

Với Nhân văn Giai phẩm, Nguyễn Hữu Đang thực sự là linh hồn. Chẳng những là một nhà tổ chức tài ba trong những công việc thu thập bài vở, ấn hành báo, chiêu tụ những người cùng một ý tưởng trong sáng là đòi hỏi những quyền tự do căn bản cho người sáng tác, Nguyễn Hữu Đang còn là tác giả của nhiều bài viết rất “nặng ký”, mang ý nghĩa sâu xa mà đến nay, khi đọc lại, chúng vẫn còn nguyên thời sự tính.

Chẳng hạn, bài phân tích về Hiến Pháp Việt Nam đăng trên tờ Nhân Văn, số 5, tháng 11 năm 1956, Nguyễn Hữu Đang đòi hỏi nhà nước phải ban bố một hiến pháp dân chủ, đảm bảo các quyền tự do cho người dân, và phải coi đó là “một nền tảng cho cái lâu đài pháp trị”.

Ông quả quyết, “Dù hiến pháp sẽ được ban bố có nội dung thế nào đi nữa, thì phần bảo đảm tự do dân chủ của nó về căn bản vẫn phải có những quyền như tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do tổ chức và hội họp, tự do cư trú, đi lại trong nước và ra ngoài nước. Và một khi tư pháp chưa quyết định thì không được bắt bớ và giam cầm người công dân Việt Nam, nhà ở và thư từ của công dân Việt Nam không ai được xâm phạm một cách trái pháp luật.”

Ông khẳng định, “Một khi cách mạng càng đi lên thì càng phải tăng cường, mở rộng các quyền tự do dân chủ cho đông đảo các giai tầng nhân dân chứ không phải ngày một bó hẹp, hạn chế nó, mang danh “chuyên chính vô sản” như giữa thập niên 50, thế kỷ trước ở miền Bắc.Tram Hoa Dua No_Nhan Van Giai Pham

Liên hệ đến những cuộc nổi dậy của nhân dân Ba Lan và Hungary năm 1956, Nguyễn Hữu Đang đã chỉ ngay ra mấu chốt của vấn đề, là vì thiếu dân chủ, và lại quá chuyên chế đối với nhân dân. Trong một bài báo khác đăng trên báo Nhân Văn, số 4, năm 1956, nhắc đến việc Liên Xô sau hơn 30 năm xây dựng cái gọi là Chủ Nghĩa Xã Hội và tuyên bố chuẩn bị bước vào kiến thiết Chủ Nghĩa Cộng Sản, vẫn phải đặt vấn đề tôn trọng pháp luật, Nguyễn Hữu Đang ám chỉ tình trạng vô pháp luật lan tràn.

Ông chỉ ra nguồn gốc của nó, là sự tùy tiện, là nếp cũ, là sự lạm quyền, độc đoán, là thứ “lập trường cách mạng” méo mó “Trong Cải Cách Ruộng Đất”.  Những việc bắt người, giam người, tra hỏi (dùng nhục hình dã man), xử tù, xử bắn, tịch thu tài sản hết sức bừa bãi, bậy bạ, cũng như việc bao vây đến làm chết đói những thiếu nhi vô tội trong các gia đình địa chủ (hoặc chính là nông dân mà bị quy sai thành phần), không phải chỉ hoàn toàn do sự lãnh đạo kém cỏi mà còn do thiếu chế độ pháp trị hẳn hoi.”

Rồi ông căm phẫn, “Do pháp trị thiếu sót mà Cải Cách Ruộng Đất hỏng to đến thế. Do pháp trị thiếu sót mà quân đội chưa có chế độ binh dịch hợp lý. Công an hỏi giấy giá thú đôi vợ chồng ngồi ngắm cảnh trăng lên ở bờ hồ, hộ khẩu rình bên cửa sổ khiến người ta mất ăn, mất ngủ.  Cán bộ thuế tự tiện vào khám nhà người kinh doanh. Ở khu phố có chuyện đuổi nhà lung tung hoặc ép buộc người ở rộng phải nhường lại một phần nhà cho cán bộ hay cơ quan ở.”  Letter from Thu-Nguyen-Huu-Dang-to-Le-Nguyen-Chi-30-9-1998

“Do pháp trị thiếu sót mà nhiều cơ quan bóc xem thư của nhân viên; và một ngành rất quan trọng nọ đòi thông qua những bài báo nói đến mình làm như một bộ phận của nhà nước lại có quyền phục hồi chế độ kiểm duyệt mà chính nhà nước đã bãi bỏ. Do pháp trị thiếu sót, người ta đã làm những việc vu cáo và đe doạ chính trị trắng trợn, ngăn cản việc mua đọc báo Nhân Văn, hành hung báo Trăm Hoa …v…v…”

Dễ hiểu là những bài viết đầy tâm huyết, nhưng mang tính học thuật và cấp tiến như vậy của Nguyễn Hữu Đang đã như những trái bom bên cạnh các sáng tác văn nghệ của phong trào Nhân văn Giai Phẩm. Xét về mặt này, có lẽ chỉ có bài viết đòi dân chủ và pháp quyền của cụ Nguyễn Mạnh Tường, nổi danh với hai bằng Tiến Sĩ Luật Khoa và Văn Chương tại Pháp là có tầm ảnh hưởng tương tự.

Không phải ngẫu nhiên mà trong chiến dịch “đánh” Nhân Văn Giai Phẩm sau này, đại đa số những kẻ “bẻ cong ngòi bút” trong đó có nhiều tên tuổi như Hoàng Trung Thông, Mạnh Phú Tư, Như Phong. Mặc dù họ đã dùng những từ ngữ hết sức tồi tệ đối với Nguyễn Hữu Đang nhưng vẫn phải thừa nhận ông là linh hồn, là ngọn cờ đầu của phong trào. Ấy là chưa nói đến chuyện trong hành động thực tiễn, Nguyễn Hữu Đang cũng đi rất xa. Ngay trước khi bị bắt, ông đã đề nghị Quốc Hội Miền Bắc cho phép biểu tình theo đúng Hiến Pháp để bảo vệ những quyền tự do và dân chủ.

Sau khi Nhân Văn Giai Phẩm bị đàn áp, Nguyễn Hữu Đang bị bắt giam tháng 4 năm1958 và đến năm 1960, ông bị bản án tù giam 15 năm là bản án nặng nhất trong số các thành viên của phong trào. Sau Hiệp Định Paris, tháng 2 năm1973, ông được trả tự do nhưng bị quản chế ở quê nhà Thái Bình.

Thời gian từ 1960 đến 1973, Nguyễn Hữu Đang bị giam ở Hà Giang, gần sát biên giới Trung Quốc. Ông là một trong vài người tù của miền Bắc không hề được biết đến cuộc chiến Việt Nam trong những năm đó!

Trong chương trình kỳ tới, VQTG sẽ trở lại với những năm tháng cực nhọc đến tận cùng của Nguyễn Hữu Đang, kẻ sĩ Bắc Hà “uy vũ bất năng khuất”.

Nguyễn Hữu Đang (II) 09/28 by AV Travel | Blog Talk Radio.

Hoàng Linh

Tiếng Thu – Lưu Trọng Lư (II)

Qua lời kể của nhà báo Lưu Trọng Văn, con thứ của Lưu Trọng Lư

Em không nghe mùa thu
Dưới trăng mờ thổn thức?
Em không nghe rạo rực
Hình ảnh kẻ chinh phu
Trong lòng người cô phụ?
Em không nghe rừng thu,
Lá thu kêu xào xạc,
Con nai vàng ngơ ngác
Đạp lên lá vàng khô?

Việt Hùng: Tiếng Thu qua lời người con thứ của cố thi sĩ Lưu Trọng Lư như lời mở đầu để giới thiệu về Tiếng Thu ra đời trong hoàn cảnh nào? Mời quý vị cùng trở ngược dòng thời gian vào những năm 30 thế kỷ trước khi Tiếng Thu ra đời.

Lưu Trọng Văn: Cha tôi có kể, hồi bé ông thường được mọi người nhờ viết thư hộ cho những gia đình có người thân tham gia cuộc (đệ nhất thế chiến 1914 – 1918), cũng có nhiều người Việt tham gia trong đội quân của người Pháp, tham chiến. Họ nhận được những bức thư, nhưng những người đàn bà ở quê vì không biết chữ nên không biết viết trả lời như thế nào nên hay nhờ cậu bé Lưu Trọng Lư, tức cha tôi viết thư hộ. Cha tôi đã phải viết hộ những lá thư nói về cuộc chiến, nói về thân phận những người đàn bà ở quê. Tất cả những điều đó đã ảnh hưởng nhiều tới bài thơ Tiếng Thu. Hình ảnh chinh phu, cô phụ, chinh phụ. Tất cả những hình ảnh đó đã ảnh hưởng vào thơ của cha tôi là vì hồi lúc nhỏ luôn phải làm cầu nối cho rất nhiều người đàn bà có chồng trong làng đi chinh chiến viễn xứ ở bên trời Âu.Luu Trong Lu's family portrait

Chính vì sống trong hoàn cảnh như vậy đã tạo cảm giác về những nỗi buồn có người chồng phải đi chinh chiến nên cha tôi từ bé đã sống trong nỗi buồn, buồn dùm cho những người đàn bà đó. Cha tôi kể rằng, trong ngôi nhà của cha tôi, chỗ ngồi học có cái bàn và trên cái bàn đó có treo một bức tranh bằng gỗ của ai đó tặng ông nội tôi. Trên bức tranh điêu khắc hình một con nai có đôi mắt to. Theo lời cha tôi kể thì đôi mắt ấy trong “ngớ ngẩn” chứ không phải là “ngơ ngác” như trong bài thơ đâu. Cha tôi đã sống trong hai cảm giác khi mỗi buổi sáng mở mắt ra ngước lên là thấy hình ảnh con nai rồi cảm giác thứ hai là đến nhà những gia đình có người thân gia đi chinh chiến xa, phải kể lại những chuyện như thế nên từ những cảm xúc như thế mới hình thành bài Tiếng Thu.

Tôi cũng xin kể cho anh nghe về chuyện lần đầu tiên tôi biết đến bản Tiếng Thu này như thế nào. Đây là một sự thật vừa buồn, vừa lạ. Đó là vào cuối năm 1966 (ở ngoài miền Bắc) lúc đó tôi là một cậu học trò 15 tuổi phải đi sơ tán ở làng Quốc Oai tức Phủ Quốc (địa danh trong thơ của thi sĩ Quang Dũng). Lúc đó tôi đang ở nhà thì máy bay tới bắn hai quả tên lửa và thả một quả bom xuống trường cấp III  Quốc Oai  của tôi. Lúc đó tôi đang ở trong hầm trú bom thì thấy trường học trúng bom, tôi chay ra khỏi hầm và chạy tới trường. Khi lao tới tôi thấy có một con trâu bị chết và bên cạnh đó có một cô bé, sau này tôi biết tên cô ta là Liên bị thương ở bụng, máu chảy nhiều.

Mọi người xúm lại và cáng cô ấy tới bệnh viện Quốc Oai ở bờ đê, băng qua một cánh đồng trống trong cảnh máy bay và bom như thế. Khi tới bệnh viện huyện thì tôi lại thấy có một bà mẹ, bà ấy ngồi bên cạnh cô bé đó, bà ấy cứ lặng đi. Có một cô y tá lúc đó nói với tôi “cậu ơi, cậu giúp tôi đánh vào mặt bà ấy một cái”. Tôi quay ra hỏi, tại sao lại đánh thì cô y tá nói đánh để cho bà ấy khóc, phải đánh để cho bà ấy khóc mới được. Tôi đã đánh, nhưng không được, cuối cùng là cả cô y tá và tôi cùng đánh bà ấy thì bà ấy mới “ộc” ra khóc.

Đêm hôm đó tôi rất buồn, tôi đi lang thang trong làng và nước mắt cứ chảy ra. Sau đó tôi có ghé vào nhà một người quen trong làng, anh ấy tên là Thao. Tôi vào nhà rồi kể lại câu chuyện đó thì tự dưng anh Thao mới đóng cái cửa bằng liếp tre lại rồi hạ cái đèn dầu thấp xuống, ánh đèn leo lét chỉ bằng hạn đậu thôi. Rồi sau đó anh ấy mới lấy cái ghế đứng lên với trên mái rơm nhà một bọc gói bằng lá chuối khô mấy tờ giấy. Trong đó có mấy tờ giấy học trò và bảo tôi đọc đi. Tôi đọc thì biết đó là bài Tiếng Thu.

Em không nghe mùa thu
Dưới trăng mờ thổn thức?
Em không nghe rạo rực
Hình ảnh kẻ chinh phu
Trong lòng người cô phụ?
Em không nghe rừng thu,
Lá thu kêu xào xạc,
Con nai vàng ngơ ngác
Đạp lên lá vàng khô?

….và ở dưới đề tên Lưu Trọng Lư 

Đấy là lần đầu tiên trong đời tôi biết cha tôi có một bài thơ như thế. Và lần đầu tiên tôi đọc một bài thơ mà tôi rợn cả người trong một không gian, thời gian vừa xảy ra những chuyện mà tôi vừa kể ở trên.

Lúc đó tôi cũng không hiểu được tại sao anh Thao, một người cũng từng làm công chức cho Pháp thời Pháp thuộc này lại đưa cho tôi bài thơ như thế. Tôi cũng không hiểu tại sao anh ấy lại có ý nghĩ đó?

Việt Hùng: Nhưng lúc đó anh Thao đó, anh ấy có biết anh là con trai của nhà thơ Lưu Trọng Lư không?

Lưu Trọng Văn: Có chứ, anh ấy biết thì anh ấy mới đưa chứ.

Việt Hùng: Nhưng mà, anh là con trai của nhà thơ Lưu Trọng Lư, phải chăng anh không biết là cha mình có một bài thơ như vậy hay kể cho anh bài thơ của cha anh hay sao?

Lưu Trọng Văn: Đấy là chuyện mà tôi đang kể cho anh, chuyện xảy ra vào năm 1966. Bản thân tôi là con trai của ông Lưu Trọng Lư mà tôi không biết. Đấy là một thực tế. Cha tôi, tôi chỉ biết những bài thơ sau này về cách mạng in báo này nọ thôi. Vì cả một thế hệ chúng tôi có được đọc đâu. Có ai cho đọc đâu? Không ai cho đọc, không lưu truyền thì làm sao tôi biết được. Điều đó cũng để thấy rằng, bài Tiếng Thu dù muốn hay không vẫn sống trong những người lớn tuổi hay sống trong một giai đoạn thời cũ vẫn nhớ tới những bài đó.
Sau này vào năm 1968, trên một chuyến đi  bằng tàu hỏa từ Bắc Kinh sang Mạc Tư Khoa có một anh bạn học nói với tôi, “Mày có thích không, tao sẽ hát cho mày nghe một bài hát này.” Và anh bạn này có kéo cánh cửa trên toa tầu, đóng cửa lại và hát cho tôi nghe bài Tiếng Thu, do nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc.

Tôi nghe tôi xúc động lắm anh ạ. Đây là lần thứ hai tôi biết đến bài thơ này. Tôi nghe và nghĩ, ồ hay vậy, tại sao bài thơ của cha mình lại có một ông nhạc sĩ là ông Phạm Duy phổ nhạc mà hay như vậy. Ngay lúc đó, “thằng bạn” tôi nói ngay, “Này mày không được phổ biết đâu đó nghe. Đây là nhạc vàng đó, lọai ủy mị đó.”

Bây giờ tôi lại phải kể cho anh nghe thêm một chuyện như vậy nữa. Chuyện này do chính cha tôi kể, ông Tố Hữu (nhà thơ Tố Hữu) có “mời” cha tôi lên rồi hỏi “này anh có nghe không, đài của Sài Gòn vẫn phát bài Tiếng Thu của anh?” Thế thì cha tôi mới nói thế này “bài Tiếng Thu, đứa con tinh thần của tôi dù phiêu bạt ở đâu thì tôi luôn yêu quý nó, thương yêu nó bởi vì nó là đứa con của tôi. Chỉ tiếc là một thế hệ trẻ không được học tới, không được biết tới“.

Chỉ về sau này khi đất nước bắt đầu “cởi mở” thì tất cả những bài thơ trong phong trào thơ mới đó mới được in lại, mới được phổ biến, nhà trường bắt đầu cho học sinh học tới, các giáo trình ở đại học mới bắt đầu học tới. Sách báo mới bắt đầu hàng loạt in ra vì đó là một thực tế của lịch sử tại (miền Bắc), một giai đoạn lịch sử đã qua.

Việt Hùng: Trở lại bài Tiếng Thu, phải chăng đây là bài thơ đầu tay của nhà thơ Lưu Trọng Lư?

Lưu Trọng Văn: Không, không ạ, những bài thơ đầu tay của cha tôi là những bài mà cha tôi kể lại lúc in không lấy tên Lưu Trọng Lư mà in trên tờ Phụ Nữ Tân Văn, tôi không nhớ rõ lắm. Bài Tiếng Thu không phải là bài thơ đầu tiên của cha tôi. Nhưng bài Tiếng Thu đã đi vào cuộc đời của ông cụ tôi, sau này ông có làm Tiếng Thu 2, nhưng cuối cùng chính ông cũng không thật sự hài lòng, dư luận cũng phản ứng cho nên sau này ông không nhắc đến bài Tiếng Thu 2 nữa.Luu Trong Lu's books

Trong gia đình tôi vẫn còn giữ bút tích của ông đề là Tiếng Thu 193…, không biết là năm 193…? nhưng chắc chắn là phải trước năm 1939. Bởi vì tập thơ Tiếng Thu in năm 1939. Nhưng tôi lại đọc ở một tờ báo xưa ở Hà Nội nói là bài Tiếng Thu đã in từ năm 1932 rồi. Và tại sao lại nói Lưu Trọng Lư là người khởi xướng phong trào thơ mới tại Việt Nam vì bản thân những bài Tiếng Thu là bài thơ đầu tiên mà ông Nhất Linh đưa đi in là in sớm nhất sau bài Tình Già của cụ Phan Khôi. Thật ra bài Tình Già của cụ Phan Khôi chưa thể hiện được cái mới của phong trào thơ mới, nhưng đã mở đầu cho một lối viết khác đi rồi sau bài Tình Già của cụ Phan Khôi là một loạt bài của cha tôi rồi đến nhà thơ Thế Lữ.

Nhưng có một điều lạ, cha tôi  là người duy nhất khi phong trào thơ mới ra đời cha tôi lại là người đi cổ suý, tuyên truyền hay thậm chí đi đấu tranh, tức là khi vào Sài Gòn cùng bà Nguyễn Thị Manh Manh đi diễn thuyết cho lớp trẻ rồi đọc thơ. Đó là từ những năm đầu thập niên 30. Cha tôi có kể trong một lần đi diễn thuyết ở mỗt trường học ở Quy Nhơn thì bị một ông “mặc đồ khăn đống áo dài” vác guốc ra đuổi, khi hỏi ra mới biết đó chính là bố của ông Xuân Diệu (nhà thơ Xuân Diệu) vì cũng không chịu được những loại thơ như thế. Thành ra cha tôi không những là người làm thơ mà lại còn là người đi diễn thuyết, đi phổ biến và còn đi tranh luận với những người thuộc lớp “thơ cũ”, thậm chí cha tôi còn tranh luận với những người như cụ Huỳnh Thúc Kháng.

Việt Hùng: Nhưng trong bản in Tiếng Thu lại ghi là “Tặng Bạn Văn”. Bạn văn ở đây có thể hiểu như thế nào?

Lưu Trọng Văn: Trong bản  in đầu tiên năm 1939 thì có ghi là “tặng bạn văn”. Bạn văn ở đây có thể hiểu ở đây là những người bạn văn chương. Thật ra trong tập Tiếng Thu có một số bài cha tôi viết là để tặng một số người như tặng Nguyễn Tuân (nhà văn Nguyễn Tuân), nhà thơ Vũ Hoàng Chương, tặng Hoài Thanh, tặng Huy Cận.

Thật ra tình cảm của ông cụ tôi với ông Nguyễn Tuân, ông Hoài Thanh và Vũ Hoàng Chương rất lớn, bởi vì đó là những người đã tri âm, tri kỷ. Nhưng mà ông Nguyễn Tuân và Vũ Hoàng Chương với cha tôi không chỉ là những người bạn tri âm, tri kỷ, bạn văn, mà còn là bạn đi chơi “giang hồ”. Cha tôi kể, đi bất cứ đâu lang thang, giang hồ thì đi với ông Nguyễn Tuân thì thú lắm. Thú với thiên nhiên, với con người, với văn chương. Và bạn văn  trong “ý” nào đó thì gần với ông Nguyễn Tuân, bởi vì hai cụ lúc còn trẻ đi chơi, lang bạt giang hồ thì hay đi với Nguyễn Tuân.  Nhưng khi đi chơi giang hồ xong về rồi thì lại hay ngồi nói chuyện với ông Hoài Thanh. Bởi vì sao? Vì ông Hoài Thanh là người có suy nghĩ cổ và khi ngồi với ông Hoài Thanh thì chỉ có văn chương dân tộc và hàng đêm các ông ngồi ở ngoài hàng hiên ở nhà ngoài Huế chỉ bàn chuyện thơ Nguyễn Du, thơ Hồ Xuân Hương, Nguyễn Trãi. Nhưng với ông Nguyễn Tuân thì không có cái đó, với Nguyễn Tuân thì lại ngồi bàn tới một cô gái đẹp, cảnh đẹp một thiên nhiên nào đó, một câu thơ, câu văn hiện đại, bàn đến thơ Pháp, văn Pháp. Thì bạn văn ấy có thể hiểu là những người cùng chí hướng với cha tôi trong định mệnh văn chương, chứ không có nghĩa cụ thể một ai.Luu Trong Lu -  portrait in sepia

Việt Hùng: Tiếng Thu của cố thi sĩ Lưu Trọng Lư qua ý nhạc của nhạc sĩ Phạm Duy như lời nói chia tay của chương trình tới quý vị thính giả. Trong chương trình buổi nay chúng tôi đã xử dụng tư liệu qua tiếng hát của nữ danh ca Thái Thanh, Lệ Thu, Khánh Ly và Duy Trác. Cám ơn quý vị đã dành thời giờ theo dõi. 

Tiếng Thu – Lưu Trọng Lư (II) 09/26 by AV Travel | Blog Talk Radio.

Việt Hùng

Tiếng Thu – Lưu Trọng Lư (II) – Online Radio

Luu Trong Lu - portrait in sepia

Em không nghe mùa thu
Dưới trăng mờ thổn thức?
Em không nghe rạo rực
Hình ảnh kẻ chinh phu
Trong lòng người cô phụ?
Em không nghe rừng thu,
Lá thu kêu xào xạc,
Con nai vàng ngơ ngác
Đạp lên lá vàng khô?

Những vần thơ mở đầu trong bản Tiếng Thu của nhà thơ Lưu Trọng Lư ra đời cách nay đã hơn 80 năm. Vậy mà sao mỗi khi thu về, hình ảnh rừng phong thu đã nhuộm màu quan san… thì đâu đó trong lòng người đi kẻ ở Tiếng Thu lại vọng về.

Tiếng Thu ra đời trong hoàn cảnh nào? Phải chăng, có thể nói Tiếng Thu là bài thơ mở đầu cho phong trào Thơ mới cuối thập niên 20, đầu thập niên 30 thế kỷ trước tại Việt Nam.

Phải chăng “thời thế – thế thời” hay vì đâu, mà ngay chính những người con trong gia đình nhà thơ Lưu Trọng Lưu chẳng hề hay biết như qua lời người con thứ:  “ … rằng cha mình có một bài thơ như vậy…”.

 Mời quý vị cùng Việt Hùng tìm về Tiếng Thu qua câu chuyện với Lưu Trọng Văn, người con thứ của cố thi sĩ Lưu Trọng Lư.

Chương trình Vòng Quanh Thế Gii phát thanh trên mng do AV Travel thc hin.

Chương trình phát ngày 26 tháng 9, 2012 lúc 11g sáng / trưa/ tối (giờ miền Tây Hoa Kỳ)

Xin bm vào link dưới đây đ nghe và ph biến cho bn bè, người thân.

Tiếng Thu – Lưu Trọng Lư (II) 09/26 by AV Travel | Blog Talk Radio.

Bài viết về “Tiếng Thu –  Lưu Trọng Lư (II)”

Bài  tham khảo thêm về Lưu Trọng Lư

Phần phát thanh “Một Mùa Đông – Lưu Trọng Lư (I)”

Nguyễn Hữu Đang (I) – Online Radio

Phien Toa Nhan Van Giai PhamNguyễn Hữu Đang
Người Chủ Xướng Phong Trào Nhân Văn Giai Phẩm

Cách đây 5 năm (vào ngày 8 tháng 2 năm 2007), nhà văn Nguyễn Hữu Đang, sáng lập viên phong trào Nhân Văn Giai Phẩm, thủ lãnh tinh thần của nhóm Nhân Văn đã lặng lẽ ra đi mà chẳng hề bao giờ biết rằng, người đời đã và đang xót thương về một nhà văn hóa uyên thâm, trung thực. Một con người trong sáng, quả cảm, một sĩ phú đất Bắc chẳng hề khuất phục trước bạo quyền.

Chương trình Vòng Quanh Thế Gii phát thanh trên mng do AV Travel thc hin.

 Chương trình phát ngày 19 tháng 9, 2012 lúc 11g sáng (giờ miền Tây Hoa Kỳ)

 Xin bm vào link dưới đây đ nghe và ph biến cho bn bè, người thân.

 Nguyễn Hữu Đang (I) 09/19 by AV Travel | Blog Talk Radio.

Bài Viết Về “Nhà Văn Nguyễn Hữu Đang”