Nguyễn Hữu Đang (III)

Tưởng Nhớ Nguyễn Hữu Đang, Kẻ Sĩ Bắc Hà  – Phần 

Trong vòng gần 20 năm kể từ khi được trả tự do, Nguyễn Hữu Đang bị an trí ở Thái Bình và có lẽ chúng ta sẽ không thể biết về quãng đời gian nan cùng cực ấy của ông, nếu không có một thiên ký động lòng của Phùng Quán, người em kết nghĩa, thành viên trẻ nhất, thường được coi là “Triệu Tử Long của Nhân Văn Giai Phẩm”.Nguyen Huu Dang

Bài ký kể về những kỷ niệm của hai người bạn vong niên, đặc biệt là về chuyến thăm Nguyễn Hữu Đang của Phùng Quán đầu thập niên 90, vào những ngày giáp Tết. Tại một vùng quê nghèo xác xơ ở miền Trung, Phùng Quán đã gặp Nguyễn Hữu Đang, ông cụ ở độ tuổi gần 80, không vợ không con, sống độc thân trong một cái chái bếp rộng chỉ khoảng 5 mét vuông mà theo lời tả của Phùng Quán là:

… Chật kín những tư trang, đồ đạc. Mấy cây sào ngọn tre gác dọc ngang sát mái, treo vắt cả chục cái khăn mặt rách xơ như giẻ lau bát, áo may-ô thủng nát, quần lao động vá víu. Cạp quần đeo lủng lẳng một chùm lục lạc làm bằng vỏ hộp dầu cao Sao Vàng xuyên thủng, buộc dây thép, bên trong có hòn sỏi nhỏ. Đụng vào, chùm lục lạc rung lên leng keng, nghe rất vui tai.

 […] Chính giữa gian chái kê cái tủ gỗ tạp nhỏ, hai cánh mọt ruỗng không khép kín được, khóa một chiếc khóa lớn như khóa nhà kho. Trên nóc tủ, xếp một chồng mũ cối, mũ vải, mũ lá mà ở Hà Nội người ta thường quẳng vào các đống rác. Cạnh tủ là một cái giường cá nhân, bốn chân giường được thống cố thêm bốn chồng gạch. Trên giường một đống chăn bông trần rách thủng, và một xấp quần áo cũ làm gối.

 Sát chân giường kê chiếc bàn xiêu vẹo chỉ có hai chân, hai chân kia được thay bằng hai sợi dây thép buộc treo vào tường […] Dưới gầm bàn là mấy chục đôi dép cao su hư nát, đứt quai, được bó thành từng bó, hai cái vại muối dưa rạn nứt, sứt miệng, một đống bản lề cửa, sắt vụn, đinh còng queo, mẩu dây thép han rỉ. Tất cả những đồ lề đó, phủ lên một lớp bụi tro.Hoang Cam

Nguyễn Hữu Đang đã sống âm thầm và đói khát như thế bao nhiêu năm, mỗi lần lặng lẽ đạp chiếc xe cà khổ trên đường vào buổi đêm, chùm lục lạc đeo vào cạp quần, vừa báo hiệu có người để thanh niên họ tránh xe, vừa để “nghe tiếng lục lạc loong coong ngang thắt lưng, tự nhiên cảm thấy đỡ cô độc”.

Không có gì ăn, ông lượm lặt vỏ bao thuốc lá để đổi lấy cóc, nhái, rắn nước của lũ trẻ trong làng, và tự an ủi đó là thứ thịt “thừa chất đạm, mà là loại đạm  cao cấp”.

Trong hoàn cảnh cực khổ đến tận cùng như vậy, Nguyễn Hữu Đang vẫn an nhiên tự tại, viết hồi ký và nghiên cứu, dịch sách lịch sử, vì ông nghĩ đó là những điều có ích cho đời sau. Là người phải tiết kiệm đến từng xu để lo “dựng túp lều khi không còn ai cho ở nhờ, phòng xa lúc ốm nặng kéo dài, phòng xa cả lúc chết nữa”, như lời ông tâm sự, ấy vậy mà khi biết một người bạn, người em tâm giao thời Nhân Văn Giai Phẩm là Phùng Cung cần tiền để in “Xem Đêm”, tập thơ của cả đời người, Nguyễn Hữu Đang đã không ngần ngại trao tất cả số tiền mà ông đã dè sẻn dành dụm trong 20 năm, chỉ với một yêu cầu duy nhất là “tập thơ phải in thật đẹp, mà đẹp giản dị, thanh nhã, chứ không rườm rà, lòe loẹt như nhiều tập thơ đang bày bán”.

Cái nghẹn ngào của Phùng Quán khi những dòng sau đây, có lẽ cũng là niềm thương cảm đến thắt lòng của mọi người dân Việt ngày hôm nay, khi nghĩ đến hình bóng một hào kiệt bậc nhất của một thời: “Không hiểu sao nghe anh nói tim tôi hồi hộp và cổ tôi như nghẹn ngào. Tôi được quen biết anh đã gần bốn mươi năm nhưng cho mãi tới hôm ấy tôi mới thật hiểu anh là người như thế nào.

 Nguyễn Hữu Đang là người nếu chi dùng cho bản thân thì một trăm đồng ba quả khế chua để gội đầu (thay chanh mà anh sợ đắt) cũng tiếc tiền, bất đắc dĩ mới phải mua, nhưng đã là việc nghĩa hiệp thì sẵn sàng san sẻ đến đồng tiền cuối cùng.

Năm 1989, Nguyễn Hữu Đang bắt đầu được “phục hồi” và từ năm 1990, ông hưởng lương hưu trí, nhưng không theo mức mà lẽ ra một trí thức như ông phải được hưởng. Cho dù được về sống ở Hà Nội từ năm 1993 và gần đây, một vài tờ báo ở Việt Nam có nhắc đến tên ông trong vai trò người tổ chức Lễ Độc lập năm 1945, nhưng sự tham gia của ông trong phong trào Nhân Văn Giai Phẩm vẫn nằm trong “vùng cấm”.

Nguyễn Hữu Đang ra đi ngày 8-2-2007, tính theo lịch Âm là trước Phùng Quán, người em kết nghĩa và thân yêu của ông, một ngày. Tang lễ được cử đúng vào ngày ông Công ông Táo lên trời, rất cảm động với sự hiện diện của bà Ngô Thị Kim Thoa (vợ Phùng Cung) và bà Vũ Bội Trâm (vợ Phùng Quán) chít khăn tang đứng cùng thân quyến bên linh cữu chịu tang.

Từ Đà Lạt, nhà thơ Bùi Minh Quốc đã nhờ bà Vũ Bội Trâm đặt viết trên lụa đôi câu đối viếng Nguyễn Hữu Đang: “Dâng Tổ Quốc kỳ đài Độc Lập, vun gốc Nhân Văn một đời trong trắng – Hiến Nhân Dân diệu lý Tự Do, đắp nền Pháp Trị muôn thuở sáng ngời”. Thi Sĩ Hà Sỹ Phu cũng có những lỡi vĩnh biệt ông hết sức cảm động: “Thê tử không màng, dựng một Kỳ đài cho thế kỷ! Nhân văn là thế, khơi ngàn ước vọng để mai sau!Giai Pham Mua Thu

Được biết, đã có rất nhiều vòng hoa trắng được mang đến viếng ông trong ngày đưa tang. Bởi lẽ, như lời cám ơn của gia đình: “Cụ Nguyễn Hữu Đang […] có một cuộc sống không được bình thường như mọi người: Không vợ con. Không gia đình. Mọi hoạt động, mọi tâm nguyện đều hướng về phục vụ nhân dân, phục vụ xã hội cho đến cuối đời. Không một đòi hỏi cá nhân ích kỷ.

Năm năm nhìn lại về sự ra đi của ông, có thể thấy rằng Nguyễn Hữu Đang – một hiệp sĩ hào hiệp, một nhà văn hóa uyên thâm và trung thực, một con người trong sáng và quả cảm – đã để lại một di sản mà chúng ta còn phải mất nhiều năm để thấu hiểu và đánh giá một cách đầy đủ.

Nguyễn Hữu Đang (III) 10/08 by AV Travel | Blog Talk Radio.

            Hoàng Linh

Trả lời

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s