Nhac Si Dang The Phong

Đặng Thế Phong – Tài Hoa Mệnh Yểu

Nhạc sĩ Đặng Thế Phong sinh năm 1918 tại thành phố Nam Định và mất năm 1942 tại Hà Nội vì bệnh lao, là một nhạc sĩ tiền chiến tiêu biểu cho nền Tân nhạc Việt Nam.

Cha mất sớm, gia cảnh túng thiếu, Đặng Thế Phong phải bỏ học khi đang theo học năm thứ hai bậc Thành chung. Ông lên Hà Nội học với tư cách dự thính tại Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương; tại đây, Đặng Thế Phong đã để lại một giai thoạt đẹp và buồn. Trong một kỳ thi, ông vẽ một bức tranh cây cụt, không có một cành nào. Lúc nạp bài, Giáo sư Tardieu, thầy dạy ông khen đẹp, nhưng đoán rằng có lẽ Đặng Thế Phong không thọ!

Thời gian sau, ông lang thang vào Sài Gòn, sau đó sang Cambodia kiếm sống – có lúc ông mở một lớp dạy nhạc. Sinh thời, Đặng Thế Phong sống và chết trong nghèo đói.

Là một trong những nhạc sĩ đầu tiên của Tân nhạc Việt Nam, trong 24 năm của đời mình, Đặng Thế Phong chỉ để lại vỏn vẹn 4-5 tác phẩm, trong đó có 3 nhạc phẩm nổi tiếng và quen biết về mùa thu là “Đêm thu”, “Con thuyền không bến” và “Giọt mưa thu” (hay “Vạn cổ sầu”; lời bài này được coi là của Bùi Công Kỳ).

Trong chương trình “Vòng Quanh Thế Giới” tuần này, nhạc sĩ Tô Vũ, cùng thời với Đặng Thế Phong, sẽ cho quý thính giả và độc giả biết về người bạn của mình.

ConThuyenKhongBen-Dang-The-Phong

Nhạc sĩ Tô Vũ nói về Đặng Thế Phong 

Nhạc sĩ Tô Vũ: Đặng Thế Phong có thể nói là một người rất đa tài và rất yêu thích âm nhạc. Anh ấy thì là người ở Nam Định, khi lên Hà Nội học, anh ấy lại học họa như kiểu Văn Cao ấy, tức là anh ấy học ở trường Mỹ thuật Đông Dương chứ không phải là nhạc sĩ bẩm sinh, rất mê nhạc và chơi nhạc guitare rất hay. Thế là, khi có phong trào vận động và sáng tác và Đặng Thế Phong một trong những người đầu tiên sáng tác. Bởi vì ông ấy có một hoàn cảnh như thế này. Lúc đó tôi ở nhờ nhà ông Phạm Cao Củng là một nhà viết truyện trinh thám đầu tiên của Việt Nam, cũng nổi tiếng, lấy hiệu là ông Văn Tuyền – Phạm Cao Củng. Tôi ở nhờ nhà ông Văn Tuyền – Phạm Cao Củng. Ông Phạm Cao Củng là chủ bút một tờ báo “Học sinh”, vẽ minh họa cho tờ báo ấy chính là nhờ ông Đặng Thế Phong. Đặng Thế Phong đến ở nhờ ông Phạm Cao Củng để vẽ báo cho ông Phạm Cao Củng, còn tôi đến ở nhờ ông Phạm Cao Củng để đi học tú tài. Thế là hai anh cùng là nhạc với nhau, Ông Đặng Thế Phong làm được bài gì là hát cho tôi nghe ngay. Bản nhạc đầu tiên mà Đặng Thế Phong được nổi lên là do Phạm Cao Củng in cho trên tờ báo “Học sinh”. Bài đầu tiên là bài “Đêm Thu”.

Việt Hùng: Nhạc sĩ là người đã có thời trai trẻ và thời còn đi học gắn liền một khoảng thời gian với những kỷ niệm với nhạc sĩ Đặng Thế Phong. Nhạc sĩ có thể chia sẻ với quý thính giả về một số ca khúc nhạc sĩ Đặng Thế Phong viết.

Nhạc sĩ Tô Vũ: Đặng Thế Phong anh ấy có mặc cảm riêng về con người. Chính vì vậy nên anh ấy viết những bài buồn. Ngoại hình của anh ấy có mấy cái răng khểnh, hai nữa là bàn tay của anh ấy toàn nổi những mụn hột cơm. Cho nên ông ấy mặc cảm về ngoại hình của mình lắm. Lúc đó, phong trào Lê Thương sáng tác, Đặng Thế Phong bảo: “Làm thế này chúng ta làm cũng được”. Đặng Thế Phong cũng làm luôn và bài đầu tiên là “Đêm Thu”. Ông Củng bảo thế này: “Thế bây giờ thì thế này: tôi phải in cho các cậu thì người ta mới biết chứ”. Ông ấy in bài “Đêm Thu” trên báo “Học sinh” cho ông Đặng Thế Phong. Thế rồi ông Đặng Thế Phong đi hát ở một số nơi từ thiện, người ta rất thích Và sau đó đến bài “Con thuyền không bến” thì nổi lên như cồn.

song_con_thuyen_khong_ben

Lúc ấy anh ấy bị bệnh và anh ấy trở về Nam Định. Chính trên giường bệnh anh ấy viết bài “Giọt mưa thu” cũng là một bài hết sức rất nổi tiếng. Người giữ bài nhạc này để in hộ là nhạc sĩ Bùi Công Kỳ và chính Bùi công Kỳ là người đưa bài “Giọt mưa thu” ra cho công chúng. Chứ khi viết bài này thì Đặng Thế Phong đã gần chết rồi.

Việt Hùng: Như vậy bản cuối cùng của Nhạc sĩ Đặng Thế Phong là bài “Giọt mưa thu” cũng như lời trăn trối để lại.

Nhạc sĩ Tô Vũ: Lúc đầu ông ấy đề là “Vạn cổ sầu” nhưng về sau anh em nào đó, tôi tin là Bùi Công Kỳ thôi, bảo là để “Vạn cổ sầu” nghe nó sầu quá nên đổi lại là “Giọt mưa thu”.

Việt Hùng: Nhạc sĩ Đặng Thế Phong lấy từ nguồn cảm hứng hay là từ ca từ nào để đặt cho “Ngoài hiên giọt mưa thu thánh thót rơi”?

Nhạc sĩ Tô Vũ: Ông ấy nằm bệnh liệt giường hàng tháng, không dậy được và người hay đến thăm lúc ốm là Bùi Công Kỳ. Cứ nghe giọt mưa tí ta tí tách và nhớ cuộc đời, thấy cuộc đời nó cũng tàn đi, nó chảy đi như giọt mưa mùa thu, tức là tâm sự cuộc đời của Đặng Thế Phong đấy.

Việt Hùng: Thế rồi để trở về bản “Con thuyền không bến”, mọi người biết đến rất nhiều “Con thuyền không bến” và “Giọt mưa thu”. Xuất xứ “Con thuyền không bến” nhạc sĩ biết từ đâu?

Con Thuyen Khong Ben - Dang The PhongNhạc sĩ Tô Vũ: “Con thuyền không bến”… đi lên chơi với anh Củng, chúng tôi hay đi chơi lắm, ngồi trên con thuyền đi trên sông Thương, con thuyền không bến… con sông ấy chính là con sông Thương mà anh Đặng Thế Phong đã từng đi và tôi cũng được biết anh đã đi mà anh ấy không rủ tôi bởi vì anh ấy đi với bạn anh ấy. Còn tôi đi với người khác. Nhưng khi về hát thì tôi biết ngay. Là một trong những người đầu tiên viết theo thể (xanh-cốp), hồi đó là mới lắm đó… (tinh tinh tinh tinh tình tình tinh – tinh tinh thinh tinh tình tinh tinh – hát) Cái ấy là cái sáng tạo mới – rất nhiều người sợ, ông Doãn Mẫn rất sợ cái đó và bảo viết thế hơi quá mạnh đấy – Đặng Thế Phong đã làm đấy, bởi vì ông ấy bảo thế nó mới đúng con thuyền lờ lững. “Đêm nay thu sang cùng heo may – Đêm nay bơ vơ thuyền trôi đây – Thuyền ai lờ lững trôi xuôi dòng – Như bước chân ai chùng tơ lòng” (hát). Bài “Con thuyền không bến” tôi nghe Đặng Thế Phong hát thấm lắm, buồn lắm!

Thế anh Củng bảo “việc gì sao cậu buồn thế”, hóa ra lần ấy anh ấy cảm thấy anh không còn tồn tại lâu, thành ra anh ấy nhìn cái gì cũng thấy buồn, đi chơi trên sông cũng cảm thấy rất buồn chứ ông ấy chả có thất tình gì đâu. Và viết bài “Con thuyền không bến” cảm thấy mình rất bơ vơ lạc lõng ở thế gian này.

Việt Hùng: Phải chăng có thể nói nhạc sĩ Đặng Thế Phong là một trong những nhạc sĩ đặt tiền đề cho khám phá mới trong những melody và những giai điệu của nền Tân nhạc như vậy? Nhạc sĩ suy nghĩ như thế nào về điều này?

Nhạc sĩ Tô Vũ: Đúng, đúng, đúng! Chính phong cách của Đặng Thế Phong rất nhiều người về sau này hướng vào cái đường ấy. Một trong những người viết và tiết tấu nó mạnh hơn chính là Ngọc Bích. Chính từ Đặng Thế Phong mà Ngọc Bích đã tiến tới cái loại (swing) Là vì Đặng Thế Phong là người dám chơi nghịch phách đầu tiên trong các ca khúc trữ tình.

Việt Hùng: Thế là từ khi Đặng Thế Phong sáng tác các ca khúc “Con thuyền không bến”, “Giọt nưa thu”, phần lớn hầu hết nhạc sĩ Đặng Thế Phong tự hát để phổ biến đến thính giả…

Nhạc sĩ Tô Vũ: Đúng. Đúng như thế. Nếu Đặng Thế Phong không hát mà chỉ in không thôi thì chắc chắc những bản nhạc đó sẽ chết chìm hết. Vì hồi đó người có thể sử dụng đuợc ký âm và hát lên được ít lắm.

Việt Hùng: Là một người có nhiều kỷ niệm với nhiều nhạc sĩ thời tân nhạc của Việt Nam, nhất là nhạc sĩ Đặng Thế Phong, nhạc sĩ có kỷ niệm gì chia sẻ với quý thính giả?

Nhạc sĩ Tô Vũ: Tôi rất quý Đặng Thế Phong. Tôi quý là vì ông ấy đa tài quá. Ông ấy vẽ rất giỏi. Ông này vừa là nhạc sĩ, họa sĩ, và ca sĩ, nhiều thứ lắm. Tôi nghĩ cũng như Văn Cao, Đặng Thế Phong không bỏ nhiều công phu học nhạc như tôi đâu, không chịu khó như tôi đâu. Thế nhưng các anh ấy như người ta nói là “học một biết mười”, hay nghe lỏm một bài hát thôi thì lập tức nghĩ ra cách gì để biến đổi thành của mình, mình sáng tác ra. Cho nên tôi bảo là loại này như các anh ấy không gọi là nhân tài mà gọi là thiên tài. Đặng Thế Phong và Văn Cao là hai điển hình mà tôi cho là thiên tài xây dựng nền Tân nhạc của chúng ta.

Việt Hùng: Trước khi ra đi, nhạc sĩ Đặng Thế Phong có để lại bản “Giọt mưa thu”, ngoài ra nhạc sĩ có nghe nhạc sĩ Đặng Thế Phong có nhắn nhủ gì để lại cho đời, cho người…giot-mua-thu

Nhạc sĩ Tô Vũ: Hình như có chuyện này bây giờ trở thành giai thoại. Có mấy bà thời trước ấy là thiếu nữ rất xinh đẹp đã về đây và nói với tôi là mình chính là người tạo cảm hứng để Đặng Thế Phong viết bản “Giọt mưa thu”. Tôi không tin. Nhưng có một bà bên Thụy Sĩ về đây, em ruột bà ấy biết tôi và tôi cũng biết gia đình ấy. Bà ấy bảo Đặng Thế Phong là vì không lấy được bà ấy nên mới viết “Giọt mưa thu” và chết thành như vậy. Hoàn toàn không đúng! Nhưng tôi biết bà này rất yêu Đặng Thế Phong, bà ấy về để lấy ảnh và thờ ông ấy bên Thụy Sĩ bây giờ. Tôi tin là không phải, không có đâu! Tôi tin là ông Đặng Thế Phong có người yêu. Cái đó là đúng! Nhưng tôi tin là rất trắc trở – cái này ông Củng nói với tôi. Gia đình cô này không thể chịu được ông Đặng Thế Phong nghèo rớt mồng tơi lại thích làm nhạc, với vẽ thì sống làm sao được! Về với ông này chỉ có ăn cơm với uống nước lã. Tôi thấy ông Củng nói về ông Phong như thế đấy. Tôi tin không phải ông đào hoa nhiều cô mê như lời cô em gái thường nói bây giờ. Tôi tin rằng ông ấy thất tình, rất yêu một người nào đó nhưng không với được cho nên những bài hát ấy rất buồn, cả “Đêm thu” cũng rất buồn, “Con thuyền không bến” lại càng buồn bơ vơ đến “Vạn cổ sầu” tức là “Giọt mưa thu” lại càng buồn hơn nữa. Anh ấy là một con người thất tình giống y như (nhạc sĩ Bizet – ở Pháp), hay là Chopin chứ không phải là người tài hoa như Đoàn Chuẩn đâu.

Việt Hùng: Thường bây giờ mọi người nói nhìều đến “Giọt mưa thu” và “Con thuyền không bến”. Tuy nhiên nhờ nhạc sĩ có thể ngân nga một ca từ hoặc melody nhỏ trong bản “Đêm thu” cho thính giả nhớ lại, hồi tưởng lại “Đêm thu”.

Nhạc sĩ Tô Vũ: (Hát) Câu “Hoa lá cành ánh trăng xuân dịu dàng” trở thành câu về sau quá nhiều người thích, đến nỗi ông Trần Văn Khê còn nói “kiểu hoa lá cành ấy mà”, tức là kiểu phù phiếm bên ngoài, không có gì. Nó chính là câu pháp của Đặng Thế Phong. Tôi thấy từ ông Lê Thương, bao nhiêu người cứ nhắc đến bảo “ừ cái cậu ấy hoa lá cành thôi, không sâu sắc, chỉ phơn phớt như bướm thôi”. Lấy từ lời ca ấy của Đặng Thế Phong. Tôi mới bảo: “Hoa lá cành” lấy từ “Đêm thu” à?” “Đúng, nó nói rất đúng Đặng Thế Phong, rất đúng! Thằng cha ấy chỉ hoa lá cành thôi”…….

Việt Hùng: Vâng, “Con thuyền không bến” qua tiếng hát Anh Ngọc, “Giọt mưa thu” qua tiếng hát Thanh Thúy, và “Đêm thu” qua tiếng hát Lê Dung cùng ký ức của nhạc sĩ Tô Vũ từ Sài Gòn nói về nhạc sĩ Đặng Thế Phong như một lời chia tay với thính giả chương trình “Một giờ vòng quanh thế giới”.

Nhạc Sĩ Đặng Thế Phong – Online Radio

 

Nhạc sĩ Đặng Thế Phong sinh năm 1918 tại thành phố Nam Định và mất năm 1942 tại Hà Nội vì bệnh lao, là một nhạc sĩ tiền chiến tiêu biểu cho nền tân nhạc Việt Nam.

Tuy là một trong những nhạc sĩ đầu tiên của tân nhạc Việt Nam,  Đặng Thế Phong chỉ để lại vỏn vẹn 4-5 tác phẩm, trong đó có 3 nhạc phẩm nổi tiếng và quen thuộc với chúng ta là “Đêm Thu”, “Con Thuyền Không Bến” và “Giọt Mưa Thu” .

Chương trình Vòng Quanh Thế Giới phát thanh trên mạng do AV Travel thực hiện.

Chương Trình Phát ngày 27 tháng 6, 2014 lúc 9g tối (giờ miền Tây Hoa Kỳ)

Xin bấm vào link dưới đây để nghe và phổ biến cho bạn bè, người thân.

 Nhạc Sĩ Đặng Thế Phong – 6.27.14 06/27 by AV Travel | Travel Podcasts.

Bài Viết Về Nhạc Sĩ Đặng Thế Phong – Tài Hoa Mệnh Yểu

Borobudur-Nothwest-view

Tìm Về Ngôi đền Borobudur, Indonesia

Nghệ thuật và Kiến Trúc Phật Giáo

Borobudur, cái tên đã quen thuộc một số  bạn đọc có dịp đi du lịch về Á châu, tìm hiểu về những thánh tích Phật giáo hay nói đúng hơn là du lịch tâm linh.

Được dựng lên từ khoảng cuối thế kỷ thứ VII đầu thế kỷ thứ VIII thuộc miền trung của đảo Jawa, Indonesia. Cái tên Borobudur có nguồn gốc từ từ Vihara Buddhaur trong tiếng Phạn tạm dịch là “Đền thờ Phật trên đỉnh núi”.

Với cấu trúc 55.000 mét vuông đá, chùa Borobudur tựa như một Kim tự tháp của sáu hình chữ nhật với ba sân thượng tháp tròn và một tòa tháp chánh điện tựa như một đài sen, đóa hoa linh thiêng của Đức Phật.

Ở mỗi hướng (Đông-Tây-Nam-Bắc) đều có 92 tôn tượng Phật và 1460 bức họa hình tạc đá nghệ thuật theo kiến trúc Phật giáo. ở tầng thấp nhất có 160 bức phu điêu theo nhân quả và những câu chuyện khác nhau về cuộc đời của Đức Phật. 92 tôn tượng Phật được đặt trong những bảo tháp và trong mỗi tôn tượng này đều có thủ ấn (Mudra) cho biết tôn tượng này thuộc về hướng nào. Hướng đông với thủ ấn của trái đất kêu gọi làm chứng, phía nam với thủ ấn phước lành, phía tây với thủ ấn của thiền định, phía bắc với thủ ấn của sự can đảm và trung tâm của tháp với thủ ấn của chuyển Pháp Luân.Borobudur stupas

Theo ghi nhận, không chỉ là biểu tượng thánh thiện của Phật Giáo, bảo tháp Borobudur cũng tượng trưng cho vũ trụ vi tế được chia thành ba cấp, cấp thứ nhất là ham muốn của con người thì chịu ảnh hưởng bởi ham muốn tiêu cực, cấp thứ hai là một thế giới mà trong đó con người đã kiểm soát được những đòi hỏi xấu xa. Cấp cao nhất trong đó thế giới của con người không còn giới hạn bởi ham muốn vật chất và sự ham muốn thể xác và hữu lậu của thế gian.

Về lịch sử những ngôi chùa Phật Giáo ở đảo Jawa bao gồm của đền  Borobudur tính cho đến nay không còn một tài liệu nào nói rõ về lịch sử hình thành, nhưng theo phapluan.net thì ngôi đền Borobudur có thể được thành lập vào năm 800 sau Công nguyên, khoảng thời gian trùng với thời gian từ năm 760 đến năm 830 thời hoàng kim của triều đại Sailendra ở miền trung đảo Jawa dưới ảnh hưởng của đế chế Srivijayan. Công việc xây dựng đền Borobudur kéo dài trong khoảng 75 năm và được hoàn tất trong thời trị vì của Samaratungga.

Trong quá khứ ngôi đền Borobudur từng bị lãng quên, hay nói đúng hơn là từng bị vùi lấp dưới các lớp tro tàn của núi lửa của hàng ngàn năm trước và phải chờ tới năm 1900 trong một lần phục chế quần thể các thánh tích Phật Giáo ở đảo Jawa người ta mới tìm lại được và còn khám phá thêm được 2 ngôi đền Phật giáo khác để rồi không biết có phải là sự sắp đặt của tạo hóa hay có Đức Phật mà 3 ngôi đền Phật giáo đã tạo được một đường thẳng tâm linh từ đền Borobudur qua đền Pawon và đền Mendut mà ngày nay người ta gọi là đường thẳng tâm Phật. Đền Borobudur được dựng lên trên một ngọn đồi đá cao khoảng 265 mét (900 ft)  trên mực nước biển 15 mét trên nền của một cái hồ đã cạn. Cũng cần thưa thêm, sự tồn tại của hồ nước này cũng là đề tài gây nhiều tranh cãi trong giới khoa học và khảo cổ thế kỷ 20. Có giả thuyết cho rằng, đền Borobudur được dựng trên một bờ hồ hay thậm chí được thả nổi trên mặt hồ dưới dạng thủy tạ. Năm 1931 ông Woj Nieuwenkamp, một nghệ sĩ người Hòa Lan cùng với những học giả của đạo Hindu và các kiến trúc sư Phật giáo đưa ra một lý thuyết để chứng minh về sự hình thành và tồn tại của ngôi đền Borobudur với lập luận, đền Borobudur tựa như một bông hoa sen nổi trên mặt hồ. Kiến trúc của Borobudur tượng trưng cho Kinh Pháp Hoa trong Phật Giáo Đại Thừa.Borobudur

Borobudur, ngôi đền Phật Giáo lớn nhất thế giới ở đảo Jawa, nay quay sang hai ngôi đền phật giáo khác cùng trong đường thẳng tâm linh, đường thẳng tâm Phật – là đền Pawon và đền Mendut. Một số người đã khá quen thuộc khi nghe đến dịp Lễ Vesak (Lễ Tam Hợp) mà người Việt thường gọi là Lễ Phật Đản. Ở Indonesia Lễ Vesak là Quốc Lễ và thường được cử hành  tại 3 ngôi chùa Phật giáo bằng cách rước Lễ đi bộ từ đền Mendut qua đền Pawon và kết thúc Lễ ở đền Borobudur.  Vậy đền Pawon và đền Mendut có lịch sử ra sao? Do đâu mà người ta lại nói 3 ngôi đền Borobudur – Pawon v à Mendut là đư ờng thẳng t âm linh, đường thẳng tâm phật?

Đền Pawon nằmgiữa Đền Mendut và Đền Borobudur trên một đường thẳng Borobudur-Pawon-Mendut. Cùng là những ngôi đền Phật giáo, Đền Pawon cách Đền Mendut 1.15 km về phía tây và cách Đền Borobudur 1,75 km về phía đông. Hiện thực kỳ diệu và hiển nhiên trong hơn ngàn năm đó của trời đất và con người Nam Dương lần đầu tiên người ta khám phá và tìm lại được trong dịp phục chế quần thể di tích lịch sử này vào năm 1900.

Có giả thuyết cho rằng “đường thẳng tâm linh” này là một sự “tình cờ”  trong quá trình xây cất. Trong khi có ý kiến khác cho rằng, các ngôi đền được liên kết với nhau bởi truyền thuyết về một con đường lát gạch từ Đền Borobudur đến Đền Mendut với những bức tranh tường trên cả hai mặt! Nếu có dịp phối kiểm xem ý kiến nào đúng với tâm linh của mình khi quý vị là một du khách cùng AV Travel hành hương trên con  “đường tâm Phật” Borobudur-Pawon-Mendut.

Về lịch sử, 3 ngôi đền đều được xây cất trong triều đại Sailendra từ thế kỷ thứ 8 và thứ 9. Nếu để ý kỹ các chi tiết và phong cách thì Đền Pawon cổ hơn Đền Borobudur. Ngôi đền này được xây cất bằng đá núi lửa, như một sự pha trộn giữa nghệ thuật Phật giáo của Java với nghệ thuật của Ấn Độ giáo.

Nhờ sự đối xứng, đơn giản và hài hòa, Đền Pawon được ví như “Viên ngọc quý của kiến ​​trúc đền đài Java”. Có thể xem ngôi đền này như một nơi để tịnh tâm trước khi viếng thăm quần thể Borobudur.

Mendut buddhist templeThe map of Borobudur Archaeological Park and its surrounding, showing that Mendut, Pawon, and Borobudur forming a straight linePawon buddhist temple

An tọa trong thị xã Magelang thuộc miền trung đảo Java, Đền Pawon với tiếng địa phương là Candi Pawon, trongtiếng Anh là Temple of Pawon. Cho đến nay giới nghiên cứu vẫn chưa tìm ra tên ban đầu của ngôi đền. Trong ngôn ngữ Java thì pawon có nghĩa nhà bếp, nguồn gốc ở chữ awu nghĩa là gốc hoặc bụi. Việc có nguồn từ chữ “bụi” cho thấy ngôi đền dường như được xây cất như lăng mộ hay đền hỏa táng cho một vị vua nào đó cũng chưa được xác định; Có thể là Vua Indra? Một giải thích mới nhất cho rằng, Đền Pawon không phải là ngôi mộ, mà là nơi để giữ cho Vua Indra một thứ vũ khí giống như lửa.

Các nhà nhân chủng học Indonesia thì cho rằng, Đền Pawon là một hoặc một phần không thể tách rời của khu đền Borobudur. Dù nhỏ hơn những ngôi đền khác, nhưng ngôi đền này vẫn có nhiều thông tin về kiến ​​trúc và lịch sử của toàn bộ khu di tích Phật  giáo và Ấn giáo trên vùng bình nguyên ở đảo Jawa.

Borobudur muralĐền Pawon nằm trên một nền tảng hình chữ nhật chỉ cao 1,5 mét. Các cạnh của bề mặt được uốn cong. Tường bên được trang trí với các tác phẩm điêu khắc vẽ hoa và có dây leo. Không giống các ngôi đền Phật khác, phần thân của Đền Pawon tương đối mỏng, giống các đền thờ đạo Hindu. Bên trong của Đền Pawon hoàn toàn trống rỗng! Tuy nhiên, người ta tin rằng từng có một bức tượng Bồ Tát bằng đồng ở bên trong ngôi đền. Bức tượng đó là biểu tượng sự tôn vinh Đức Vua Indra – người được cho là đã đạt tâm Bồ Tát.

Đền Pawon còn có một họa phẩm điêu khắc rất lạ mang hình một chú mèo mà cho đến nay chưa có lời giải thích nào được truyền tụng. Nếu có dịp tới đây quý vị hãy để ý  tới chi tiết đó?

Mặc dù rất nhỏ so với 2 ngôi đền Borobudur và Mendut, nhưng Đền Pawon luôn vẫn giữ vẻ huyền diệu trong kiến ​​trúc và nguồn gốc bí ẩn của mình.

Một ngôi đền khác cũng nằm trong đường thẳng tâm Phật có tuổi thọ lâu đời nhất trong 3 đền đó là Đền Mendut được xây cất từ năm 824 và về kích thước chỉ như một tháp Chàm ở Việt Nam.

Borobudur-buddhaCách khu di tích Borobudur về phía đông chừng 3 km, Đền Mendut nổi danh toàn cầu vì sở hữu 3 bức tượng Phật bằng đá rất lớn và lạ, thể hiện quan niệm “từ động vào định” của Kim Cương thừa khi diễn tả các vị Bồ Tát Di Lặc, Quán Thế Âm và Kim Cương Thủ. Ba bức tượng này được thừa nhận thuộc vào hàng những bức tượng đá đẹp nhất trên thế giới về sự hoàn hảo!

Ba pho tượng Phật ở Đền Mendut cao khoảng 3 mét và đặc sắc là ở tư thế cùng dáng vẻ mà không một pho tượng Phật nào từng có. Nếu là lần đầu tiên du khách sẽ thấy một bức tượng Phật ngồi không theo tư thế hoa sen! Tượng đức Bồ Tát Di Lặc ngồi thõng hai chân rất thoải mái. Bên trái là tượng Quán Thế Âm Bồ Tát cũng thả chân phải xuống, còn bên phải là vị Kim Cương Thủ đang thả lỏng chân trái.

Các tư thế thong dong và thoải mái của 3 vị Phật, Bồ tát này giống như những ý niệm giúp khách hành hương giải thoát được nghiệp của miệng (karma of speech), của ý (karma of thought), và của thân (karma of body). Liệu quý khách có cảm thấy mình như đang về với Phật tính, bản tâm và chân như, để quên đi về danh vọng, hưởng thụ, phù du?

Đối với Phật tử ở Indonesia và nhiều nơi trên thế giới, Đền Mendut mang giá trị rất đặc biệt. Sự tồn tại của 3 bức tượng Phật khổng lồ với vẻ đẹp hấp dẫn và lạ lùng vừa là di tích tâm linh, vừa là kiệt tác nghệ thuật. Ba bức tượng an tọa điềm nhiên trong đền thờ luôn được các Phật tử trong vùng nhìn thấy từ đó tỏa ánh hào quang của phước hạnh. Theo thời gian ngày càng có nhiều du khách và Phật tử hành hương từ mọi miền trên thế giới tới Đền Mendut trước khi thăm viếng quần thể Borobudur.

Ngôi đền Mendut cũng làm du khách kinh ngạc với những bậc thang đá hơn ngàn năm tuổi. Với điêu khắc chạm trổ sắc sảo của phần tường bao quanh những bậc thang đá còn nguyên vẹn. Với những câu chuyện, cuộc đời của đức Phật, của các vị Bồ tát cùng hình ảnh cuộc sống đời thường xưa kia… Các phù điêu minh họa sinh động sẽ làm bước chân của quý vị cuốn theo mặt ngoài Đền đến hết vòng mà vẫn muốn đi mãi.

Đền Mendut dù nhỏ bé cũng tạo thành một phần không thể tách rời của tâm niệm hành hương đến đỉnh núi vũ trụ của Phật giáo ở Borobudur,  ngôi đền Phật giáo lớn nhất thế giới.Borobudur-Festival

Trở về nhà sau chuyến hành hương dài ngày và kỳ diệu cùng xứ sở biển, rừng Indonesia, du khách sẽ có biết bao điều để nhớ về những cảnh quan hoang sơ và trong lành, về những lễ hội nhộn nhịp trên đường phố mang tính truyền thống của người dân bản xứ với vẻ đẹp đằm thắm trong trang phục quyến rũ của các cô gái Jawa và Bali.

Việt Hùng

 

Photos: 1. Borobudur Temple view from northwest plateau, Central Java, Indonesia, 12 June 2008, Author Gunawan Kartapranata; 2. Mendut Temple, October 2008, author Gunawan Kartapranata; 3. Maf of Borobudur, 11 March 2011, author Gunawan Kartapranata; 4. Pawon Temple, October 2008, author Gunawn Kartapranata; 5. The murals (reliefs) on the wall of Borobudur, central Java, Indonesia, 2004, Frank Wouters; 6.Ballet Performance in front of the Borobudur Temple, 2006, Flying Pharmacist, 7. A Buddha statue with the hand position of dharmachakra mudra (turning the Wheel of the Law), 2004, Jan-Pieter Nap. 8. Borobudur stupas overlooking a mountain, 2008, Heaven’s Army.