Winter in Russia-Arzamas

Giấc Mơ Mùa Đông

Tilia Cordata Winter in RussiaNhững vì sao dường như cất lên cao
Ánh sáng êm dịu không còn làm ai khó chịu
Nếu anh không còn nghe thấy tiếng em thì thầm
Nghĩa là mùa đông đã đến rồi.

Bầu trời buồn rầu cúi xuống thấp hơn,
Những ngôi nhà ẩn hiện trong ánh chiều chạng vạng
Tất cả chỉ có vậy,
Nghĩa là mùa đông đã đến rồi.

Ðó là những lời mở đầu cho bài hát  “Giấc Mơ Mùa Đông” nổi tiếng của ca sỹ Alsoul. Ðây là bài hát ra mắt trình làng của cô năm 1999 và ngay lập tức đã trở thành bài hát nổi tiếng trong năm và cũng là bài hát đã mang lại tên tuổi cho cô từ đó cho đến nay.

Ở Nga, ngày 1 tháng 12 là ngày lập đông, bắt đầu cho một mùa đông 3 tháng kéo dài từ tháng 12 đến hết tháng 2. Thế nhưng trên thực tế mỗi năm, suốt từ đầu tháng 11 đến hết tháng 3 tuyết phủ trắng xóa và lúc nào cũng là cái lạnh bao phủ. Ai ở xứ nóng, lần đầu thấy mùa đông nước Nga đã thấy buồn, càng ở lâu thấm cái lạnh buốt của mùa đông tới âm 25-30 độ dưới không, cảnh vật trơ trụi lại càng buồn chán nữa. Thế nhưng khi đã gắn bó mới nước Nga thì những kỷ niệm mùa đông lại khó quên hơn cả. Mùa đông chính là mùa của những lễ hội quan trọng nhất trong năm: Giáng sinh, Năm mới, Maslenitsa-lễ tiễn biệt mùa đông, ngày lễ tình yêu Valentine.

Thật là lạ, mùa xuân vẫn được xem là mùa của tình yêu, nhưng từ xa xưa, ngày lễ tình yêu lại được chọn vào mùa đông. Ở Nga ngày xưa không có ngày lễ tình yêu Valentine 14 tháng 2, nhưng người Nga lại dành cả một tuần lễ cuối đông để tổ chức lễ hội Maslenitsa, đó là dịp để các đôi trai gái tìm hiểu, hẹn ước với nhau, để đến những ngày tháng mùa xuân ấp áp, họ sẽ cùng nhau lên xe hoa cho một gia đình mới.

Trong nhận thức của con người, mùa xuân vẫn là mùa ngọt ngào, dễ thương hơn cả, mùa của sinh sôi, của sắc mầu, của ấm áp dễ chịu mà không quá nóng. Thế nhưng, nếu cái quyến rũ của mùa xuân tràn đến rồi lướt đi chỉ để làm người ta nuối tiếc mà không nắm bắt được thì cái đằm thắm, tinh tế của mùa đông lại đọng lại trong tâm tư thật lâu, thật sắc sảo, thật khó phai mờ.

Russia_Christmas

Tình yêu mùa đông ấm áp lạ thường. Má ửng hồng, mắt long lanh, cô thiếu nữ đâu cảm thấy gió lạnh, chỉ có một mặt trời đầm ấm từ trong tim vẫn luôn tỏa sáng. Mặt trời tình yêu mùa đông, chẳng thể nào nhầm lẫn với bất cứ mặt trời nào khác.

Anh sẽ đi qua
Cái quyến rũ của mùa xuân,
Cái cháy bừng của mùa hạ,
Cái xôn xao của mùa thu rất lạ
Ðến cầm tay em băng giá giữa mùa đông
Tình yêu nguyên vẹn đắm say nồng
Thu nắng bốn mùa gửi cả mắt em trong…

Hạnh phúc mùa xuân đến như sóng dồn nhưng cũng thật nông nổi dễ tan. Hạnh phúc mùa hè quyến rũ, đam mê, nhưng cũng làm người ta mau chán. Hạnh phúc mùa đông thường thật đơn xơ nhưng có lẽ là bến cuối cùng con người dừng lại trong đời mình, khi đã chẳng thể tìm thấy sự ấm áp giữa mùa xuân, mùa hè hay mùa thu.

Trong giấc mơ của em có mặt trăng ẩn hiện
Buổi chiều xuống dầy đặc trong sương mù
Anh nhớ chăng, chúng mình đã thật mong
Ðể được đến với mùa đông…
Vào ngày em gặp anh trong mơ
Mùa đông cũng vừa đến thật nhẹ
Bên khung cửa đơn độc
Em vẫn thức với ngọn đèn đợi anh…

Russia-Winter -lake-Kratovskoe

 

Khi gió lạnh vần vũ bên ngoài cửa sổ, khi những hạt tuyết bay đầy trời, người ta lại càng thấy thật hạnh phúc khi có nhau trong một ngôi nhà ấp áp, bình yên, một hạnh phúc thật đơn sơ nhưng trọn vẹn. Chẳng thế mà nhiều cặp vợ chồng đã chọn những túp lều gỗ giữa rừng để tận hưởng những ngày nghỉ đông đầy băng giá, và những nhà nghỉ giữa mùa đông ở nước Nga ngày càng trở nên thu hút mọi người. Phải chăng, giữa cuộc đời vội vã, người ta ngày càng cảm thấy nhu cầu được tận hưởng một hạnh phúc đích thực của riêng mình, và giấc mơ mùa đông bao giờ cũng vẫn huyền bí và ngọt ngào nhất?

 Hoài Hương

Photos:  Featured Image: Winter in Arzamas, Russia, by User arzy from panoramio.com, Creative Commons.1. Russia. Moscow Region. Winter wood, lake Kratovskoe area, 2012 Aleks G.  2. Tilia cordata. Russia. Ivanovo Oblast. 3. New Year season at Revolution Square near the Moscow Station, in Nizhny Novgorod’s Kanavino district, 2005 by Setaries

The Valse des cygnes from Act II

Tchaikovsky – Vở Balê Hồ Thiên Nga

Nói tới văn hóa Nga, không ít người sẽ nghĩ ngay tới nghệ thuật ba-lê của Nga, và đã nhắc đến ba-lê Nga thì người ta không thể không nghĩ tới vở balê được gọi là “balê của những vở balê“, đó là “Hồ thiên nga” của nhà soạn nhạc lừng danh Tchaikovsky. Có lịch sử từ hơn một trăm năm trước, Hồ Thiên Nga ra đời vào năm 1877, nhưng cho đến nay vẫn là niềm say mê của những ai yêu thích môn nghệ thuật này.

Pyotr Ilyich Tchaikovsky

Pyotr Ilyich Tchaikovsky

Không phải ngẫu nhiên mà vở Balê “Hồ Thiên Nga” lại nổi tiếng trong suốt chiều dài lịch sử như vậy. Vở balê này đã gắn với những tên tuổi như nhà soạn nhạc Pie Tchaikovsky và những nhà biên đạo múa Petin, Ivanov, Grigorovich.

Nhưng điều quan trọng hơn cả là nó diễn tả được những tâm tư cháy bỏng trong mỗi con người: tình yêu thánh thiện, ước mơ cao cả, nỗi thất vọng và sự cám dỗ của đời thường.

Tchaikovsky với Hồ Thiên Nga

Hồ Thiên Nga là vở balê đầu tay của Tchaikovsky. Với suy tưởng, balê cũng là một bản giao hưởng, và ông đã đưa những ý tưởng của mình vào vở balê này. Tchaikovsky đã làm thay đổi hoàn toàn cách suy nghĩ về các vở balê, ông đã  đưa nghệ thuật giải trí này lên thành một nghệ thuật trìu tượng, sâu sắc, mang được những nét thầm kín trong tư duy.

Vào thời Tchaikovsky sáng tác vở “Hồ thiên nga”, ở xứ Bavaria thuộc nước Ðức bấy giờ, có vị Vua Đức tên là Ludwig đệ nhị nổi tiếng lãng mạn, say mê nghệ thuật, đặc biệt là âm nhạc. Vua Ludwig đệ nhị đã cho xây một tòa lâu đài thần tiên tuyệt đẹp gọi là lâu đài Neuschwanstein (Lâu đài Thiên Nga), đứng trên sườn núi trông ra khu hồ cũng mang tên là hồ Thiên nga hết sức thơ mộng.

The décor of Act II of Swan Lake,

The décor of Act II of Swan Lake, Moscow, 1877

Với cảnh quan của Tòa lâu đài và hồ Thiên nga, vị vua lãng mạn đến khác thường này đã tạo niềm cảm hứng cho Tchaikovsky sáng tác vở “Hồ Thiên Nga” tuyệt tác, một vở balê được xếp vào loại bi thương và trữ tình nhất trong lịch sử âm nhạc. Có lẽ chính vì vậy Tchaikovsky đã quyết định đặt tên cho hoàng tử, nhân vật chính trong vở Balê một cái tên Ðức, cho dù Tchaikovsky là người Nga.

“Hồ Thiên Nga” ra mắt khán giả lần đầu tiên vào tháng 2 năm 1877. Sau sáu năm trình diễn thì vở Balê phải tạm ngưng. Ðối với thời kỳ đó, sáu năm diễn cho một vở Balê đã là rất dài, vì nghệ thuật múa vào thời điểm đó vẫn chưa đạt được đúng tầm của nó và chưa diễn tả được hết ý tưởng của âm nhạc Tchaikovsky.

Hồ Thiên Nga chỉ thành danh, chỉ thực sự được biết đến sau khi Tchaikovsky đã qua đời gần 20 năm sau. Vào năm 1895, Hồ Thiên Nga được dàn dựng lại và từ đó người ta mới cảm nhận được cái đẹp của Tchaikovsky, cái hồn lãng mạn của “Hồ Thiên Nga”, cái dịu dàng, quyến rũ của những vũ điệu balê.

Hồ Thiên Nga và những cách nhìn.

Cho đến nay Hồ Thiên Nga vẫn có hai trường phái dàn dựng khác nhau, nhưng cả hai đều rất được hâm mộ và mỗi trường phái đều diễn tả câu chuyện Hồ Thiên Nga theo một khía cạnh khác nhau.

Trong khi các nhà hát Balê ở Saint Petersburg thể hiện vở balê này theo sự dàn dựng của nhà soạn nhạc Ricardo Drigo cùng với sự biên đạo múa của hai nhà đạo diễn nổi tiếng là Petin (người Ðức) và Ivanov (người Nga) thì tại Máxcơva các Nhà hát Balê lại thể hiện vở Hồ Thiên Nga theo đúng tinh thần và hồn nhạc của Tchaikovsky qua sự biên đạo múa của Grigorovich.

Zenaida Yanowsky as Odette in Swan Lake

Zenaida Yanowsky as Odette in Swan Lake

Trở ngược dòng thời gian tại Saint Petersburg, vở Hồ Thiên Nga của Tchaikovsky được nhạc sĩ Ricardo Drigo dàn dựng và cho ra đời lần đầu tiên vào năm 1895. Nhạc sĩ Ricardo Drigo đã không lấy toàn bộ những giai điệu của Tchaikovsky sáng tác cho Hồ Thiên Nga  mà ông chỉ lấy những đoạn trích từ những sáng tác khác nhau của Tchaikovsky để đưa vào Hồ Thiên Nga, trong đó có cả những đoạn mà Ricardo Drigo tự viết nhạc.

Hồ Thiên Nga trong sự chuyển thể của Drigo mang nhiều nét cổ tích, mang nhiều nét huyện thoại hơn và Hồ Thiên Nga đã trở thành một huyền thoại thật đẹp, thật cảm động về tình yêu. Nhà biên đạo múa người Ðức Petin đã mang đến cho vở diễn không khí tưng bừng của những vũ điệu, vẻ hào nhoáng của những buổi lễ hội nơi cung đình, còn nhà biên đạo múa Ivanov đã làm cho vở balê Hồ Thiên Nga mang được bóng dáng tâm hồn Nga. Những cảnh thiên nga yểu điệu rập rờn nối đuôi nhau bên bờ hồ phủ sương, những mái đầu nghiêng nghiêng mềm mại, làm người ta hình dung được những đàn thiên nga bên bờ hồ phương bắc. Những bước chân mềm mại, những cánh tay uyển chuyển theo dòng nhạc trữ tình làm người ta như thấy những cánh chim nhè nhẹ đong đưa theo những tiếng hát buồn da diết của đàn thiên nga. Đó là với trường phái Hồ Thiên Nga ở Saint Petersburg.

Với trường phái ở Máxcơva, năm 1969, nhà biên đạo múa nổi tiếng của Nhà Hát Thành Phố Moscow, ông Grigorovich, người hết sức đam mê âm nhạc Tchaikovsky đã quyết định trả lại cho Hồ Thiên Nga cái hồn ban đầu của nó.

Ông đã dàn dựng lại vở diễn theo đúng ý tưởng của Tchaikovsky, một dòng nhạc đầy cảm xúc, đầy kịch tính, nhưng cũng thật lãng mạn.

Hồ Thiên Nga trong cách nhìn của Grigorovich, không còn là một câu chuyện cổ tích về tình yêu nữa mà đã là một thế giới nội tâm đầy mơ mộng nhưng cũng thật sóng gió. Một thế giới của thực-hư, hư-thực, của trắng-đen, một khoảng khắc thật gần nhau, thật khó phân biệt. Thế nhưng trở trêu thay, dưới thời Liên Xô còn tồn tại thì sự dàn dựng của Grigorovich đã phải thay đổi rất nhiều, đặc biệt là đoạn kết trong vở diễn. Những nhà lãnh đạo văn hóa Liên Xô thời đó đã không cho phép nàng Odetta, biểu tượng của niềm tin, của cái đẹp được chết trong tay của số phận. và phải chờ mãi tới năm 2000, vở Hồ Thiên Nga mới được sửa lại theo đúng kịch bản của Grigorovich, một kịch bản theo sát ý tưởng khởi đầu của Tchaikovsky.

Hoàng Tử Digfrid và giấc mơ đi tìm sự tuyệt đối.

Trong kịch bản của Drigo, Hồ Thiên Nga là một câu chuyện tình yêu thật đẹp.

Hoàng tử xứ Ðức Digfrid vừa tròn 18 tuổi. Vương triều lúc đó đã tổ chức chúc mừng chàng thật linh đình, những vũ điệu vui nhộn của khắp xứ Âu châu được mang ra trình diễn trong Hoàng cung, từ những vũ điệu vui nhộn của xứ Tây Ban Nha tới những điệu Valse lôi cuốn của Hungari và Ba Lan.

Vào buổi chiều, bạn bè rủ Hoàng tử vào rừng đi săn và họ dừng chân nghỉ lại bên bờ hồ yên tĩnh. Trong ánh trăng bàng bạc, Hoàng tử được chứng kiến một quanh cảnh thật kỳ lạ. Bày thiên nga mềm mại, trắng muốt từ từ thoát khỏi lốt thiên nga và biến thành những cô gái thật kiều diễm, yêu kiều.

The Valse des cygnes from Act II

The Waltz of the swans from Act II of the Swan Lake

Odetta, bà chúa của bầy thiên Nga đã làm cho Hoàng tử Digfrid bị choáng ngợp bởi vẻ đẹp yêu kiều của mình. Odetta kể cho Hoàng tử nghe về số phận của mình và các nàng thiên nga khác. Các nàng bị lão phù thủy độc ác Rotbart phù phép, biến thành những con thiên nga. Chỉ đến đêm, họ mới được trở lại lốt người. Ma thuật của lão phù thủy chỉ biến mất nếu nàng Odetta gặp được một người hết lòng yêu thương và chung thủy với nàng. Bên bờ hồ thiên nga, Hoàng tử Digfrid đã thề sẽ mãi mãi giữ trọn tình yêu với nàng Odetta.

Khi hoàng tử Digfrid trở về hoàng cung, thì cha mẹ của chàng lại tổ chức yến tiệc linh đình để kén vợ cho chàng. Tất cả các tiểu thư không làm chàng mềm lòng. Nhưng phù thủy Rotbart vô cùng thâm độc. Hắn cải trang cho cô con gái Odillia của mình mang dáng vẻ của bà hoàng thiên Nga Odetta và đã làm cho Hoàng tử tưởng lầm. Chàng vui mừng định công bố Odillia là vợ chưa cưới của mình, nhưng rồi chàng chợt thấy hình bóng của Odetta hiện về. Hoàng tử chợt bừng tỉnh và hiểu rằng chàng đã bị phủ thủy Rotbart đánh lừa.

Bên bờ hồ thiên nga các nàng thiên nga hồi hộp chờ đợi bà chúa Odetta của mình được giải thoát. Nhưng nàng Odetta buồn bã cho biết hoàng tử đã phụ bạc lại lời thề thủy chung của mình. Hoàng tử cũng chạy đến xin tha thứ vì sự nhầm lẫn của mình. Nhưng lời thề của Hoàng tử đã không còn linh nghiệm nữa. Ðể cứu người yêu và bầy thiên nga, vị Hoàng tử đã quyết định tìm đến cái chết. Kết cục nàng Odetta và Hoàng tử đã cùng chết bên nhau trong lòng hồ thiên nga và tình yêu của họ từ đó đã trở thành bất tử.

Trong kịch bản của Grigorovich, Hồ Thiên Nga không còn là một huyền thoại về tình yêu nữa, mà nó đã mang đầy tính suy tưởng, đầy tính triết lý.

Những cánh thiên nga kiều diễm bên bờ hồ, không còn là những nàng tiên bị phù phép, mà là thế giới của những cái đẹp, của những mơ ước trong thế giới nội tâm của Hoàng tử Digfrid. Nàng tiên thiên Nga Odette chính là hình ảnh của tình yêu, của sự dịu dàng tuyệt đối mà chàng được số phận cho nhìn thấy.

Scene from Act 4 of Swan Lake.

Scene from Act IV of Swan Lake.

Nhưng số phận là một vị thần thật nghiệt ngã, chẳng cho người ta được êm ấm, dễ dàng đạt được mơ ước của mình. Số phận mách bảo cho Hoàng tử sự hiện diện của nàng Odette, nhưng cũng là thông điệp cho Hoàng tử và nàng Odillia để thử thách.

Odillia thật giống Odetta về hình thức, và Hoàng tử đã bị nàng mê hoặc. Chỉ đến khi nhận nàng là vợ chưa cưới, Hoàng tử mới biết mình bị nhầm lẫn. Nhưng số phận không cho phép chàng rút lời. Khi chàng không còn giữ được sự trong trắng trong chính tâm hồn mình, thì giấc mơ trong trắng của chàng cũng chết. Khi chàng đã phản bội lại niềm tin, thì tình yêu tuyệt đối cũng không thể sống nổi, dù chàng được tha thứ. Và nàng Odetta đã bị chết trong tay của số phận nghiệt ngã ngay khi ngày mới bắt đầu.

Cho tới ngày nay, dù vở balê Hồ Thiên Nga được dựng theo trường phái nào, theo huyền thoại, hay theo triết lý thì Hồ Thiên Nga cũng đã làm cho khán giả mê đắm bởi vẻ đẹp của mình, bởi những giai điệu thật đặc sắc, khiến không ít người đã phải suy tư về tình yêu, về niềm tin và về cuộc đời.

Hoài Hương

 Photos: 1. Portrait of Peter Tchaikovky. 2. Design by F. Gaanen for the décor of Act II of Swan Lake, Moscow, 1877. 3. Zenaida Yanowsky as Odette in a 2007 production of Swan Lake at London’s Royal Opera House, scillystuff from UK . 4. The Valse des cygnes from Act II of the Ivanov/Petipa edition of Swan Lake, Paata Vardanashvili from Tbilisi, Georgia – Swan Lake. 5. Scene from Act 4 of Swan Lake.
Vienna State Opera, 2004,  PeterGerstbach

Franz Schubert – Online Radio

Portrait of Franz Schubert

Franz Peter Schubert (31 tháng 1 năm 1797 – 19 tháng 11 năm 1828) là một nhà soạn nhạc người Áo. Ông đã sáng tác 600 Lieder, 9 bản giao hưởng trong đó có bản giao hưởng nổi tiếng “Unfinished Symphony” cùng các thể loại nhạc nghi lễ, nhạc thính phòng và solo piano. Ông được biết đến với các tác phẩm có giai điệu nhẹ nhàng và du dương.

Dù Schubert có khá nhiều người bạn ngưỡng mộ các nhạc phẩm của ông (như thầy giáo của ông Antonio Salieri, và ca sĩ nổi tiếng Johann Michael Vogl), tuy nhiên âm nhạc của Schubert thời đó không được thừa nhận rộng rãi nếu không muốn nói là rất hạn chế. Schubert chưa bao giờ đảm bảo được một công việc ổn định và thường xuyên phải nhờ đến sự ủng hộ của bạn bè và gia đình trong phần lớn sự nghiệp.

Schubert mất sớm, năm 31 tuổi, do hậu quả của bệnh thương hàn là thứ bệnh không chữa được thời đó. Vài thập kỷ sau khi Schubert qua đời, các tác phẩm của ông mới khẳng định được tên tuổi của mình, một phần nhờ công lao phổ biến của các nhạc sĩ cùng thời như Franz Liszt, Robert Schumann, Felix Mendelssohn.

Chương trình Vòng Quanh Thế Giới phát thanh trên mạng do AV Travel thực hiện.

Phát ngày 17 tháng 5, 2013 lúc 9g tối (giờ miền Tây Hoa Kỳ)

Xin bấm vào link dưới đây để nghe và phổ biến cho bạn bè, người thân.

 Franz Schubert 05/17 by AV Travel | Blog Talk Radio.

Ludwig van Beethoven – Online Radio

Portrait of Beethoven

Ngồi lẻ trong trăng lạnh, xa xa tiếng nhạc buồn, người mang nỗi buồn thường thức khuya, thức khuya một mình trong ánh trăng đêm. Từng ánh trăng hắt xuống bao phủ ta như đang an ủi ta trong nỗi cô đơn bóng lẻ nhưng cũng chính ánh trăng đêm ấy làm cho ta thấy rõ ta đang một mình. Phải chăng đó đã từng là tâm trạng của Ludwig Van Beethoven khi viết bản Sonata số 14 cho đàn piano (Moonlight) hay tạm dịch là bản Sonata Ánh Trăng,  mời quí vị cùng Việt Hùng  đến với thế giới âm nhạc.

Chương trình Vòng Quanh Thế Gii phát thanh trên mng do AV Travel thc hin.

Chương trình phát ngày 11 tháng 10, 2012 lúc 11g sáng (giờ miền Tây Hoa Kỳ)

Xin bm vào link dướđây đ nghe và ph biến cho bn bè, người thân.

 Ludwig van Beethoven 10/11 by AV Travel | Blog Talk Radio.

Bài viết về “Ludwig van Beethoven”

Ludwig van Beethoven

Ludwig van Beethoven sinh ngày 16 tháng 12 năm 1770 tại Bonn, một thành phố thuộc miền Tây nước Ðức, trung tâm văn hóa của nước Ðức thời bấy giờ. Xuất thân từ gia đình có truyền thống âm nhạc, Beethoven đã bộc lộ rõ tài năng đặc biệt về âm nhạc, chẳng hạn như mới lên 3, lên 4 tuổi, cậu bé Ludwig đã chú ý nghe rồi bắt chước lại những gì nghe được từ người cha trong các nốt nhạc và hòa âm.

Nhận thấy tài năng bẩm sinh của cậu con trai, người cha là Johann Beethoven bắt đầu dạy con và muốn con mình sẽ trở thành một thần đồng âm nhạc thứ hai sau Mozart.Thirteen-year-old Beethoven

Năm lên 8 tuổi Ludwig van Beethoven đã trình diễn trước công chúng. Ngoài sự khổ luyện âm nhạc, cậu bé Ludwig còn phải học thêm ngoại ngữ và đến năm 12 tuổi đã chơi thành thạo đàn piano, vĩ cầm (violin) và organ.

Cùng với hoài bão và những lời khuyên của một số nhạc sĩ thời bấy giờ, Beethoven quyết định lên đường đi Vienna thủ đô nước Áo quốc để gặp Mozart. Năm 1787, thủ đô Vienna lúc đó được mệnh danh là trung tâm văn hóa Âu châu cho nên việc để xin gặp được Mozart không phải dễ nhất là vào lúc đó vở nhạc kịch Don Giovanni của Mozart đang hưng thịnh. Tuy nhiên với tài năng của mình Beethoven đã chiếm ngay được cảm tình, sự quý trọng từ Mozart và hứa sẽ nhận Betthoven làm học trò.

Chẳng được bao lâu trước tin vui được làm học trò của Mozart, Beethoven nhận được tin thân mẫu đang hấp hối và vì vậy mọi việc đành gác lại để trở về Bonn. Không gì đau khổ hơn là khi về đến nơi được vài ngày thì người mẹ mà Beethoven yêu quý nhất đã qua đời. Ít lâu sau, lại thêm một đám tang nữa đến với gia đình là sự ra đi của người em gái.

Ðứng trước trách nhiệm cao cả của gia đình là kế sinh nhai của mấy người em trong già đình, Beethoven quyết định ở lại Bonn để nuôi các em và đây là sự quyết định đầy cao cả mà sau này ông đã tâm sự, rằng đó là thời kỳ khủng hoảng, một giai đoạn nặng nề nhất của thời niên thiếu, nhưng cũng chính vì “biến cố” này mà Beethoven đã rèn được nghị lực và ý chí vươn lên trong sự cảm thông của những người thuộc vào tầng lớp nghèo trong xã hội.

 Năm 1789, không chỉ sáng tác và trình diễn, khi cuộc cách mạng nổ ra tại nước Pháp, Beethoven cũng được nhận vào khoa triết trường đại học tổng hợp Bonn. Cũng tại nơi đây việc học của ông bị dang dở vì luồng tư tưởng: “ tự do, bình đẳng, bác ái ” của ông cùng một số sinh viên khác gặp phải sự chống đối mạnh của nhà trường, vì vậy chàng thanh niên 19 tuổi phải gác lại những hoài bão của mình và chính vì vậy những âm hưởng từ cuộc cách mạng Pháp và tính triết lý đã bộc lộ rõ trong những giai điệu, những tác phẩm của Beethoven.

Trong cái rủi có cái may, dù bị đuổi khỏi trường nhưng may mắn đã đến với Beethoven khi gặp được Joseph Haydn, một nhạc sĩ rất nổi tiếng thuộc trường phái cổ điển Vienna. Cá nhân Haydn đã nghe Mozart nói nhiều về Beethoven và hứa sẽ dạy ở Vienna.

Nhiều nhạc sĩ cùng thời với ông đã phải thốt lên rằng, phải chăng cuộc đời Beethoven luôn luôn bất hạnh và luôn luôn hạnh phúc đó có phải là số mệnh của ông hay không mà mỗi khi nhận được tin vui thì lại có ngay tin buồn. Sau khi gặp và Haydn hứa sẽ dạy thì cái tin bất hạnh lại đến vào ngày 6 tháng 12 năm 1791 Mozart qua đời, hoài bão được làm học trò của Mozart đã không bao giờ trở thành hiện thực nữa.Beethoven's Signature

Lại một lần gạt nước mắt trở lại Vienna vào mùa cuối Thu năm 1792 tức là sau gần 1 năm kể từ ngày Mozart qua đời. Khác với lần trước tới Vienna, lần này Beethoven được đánh giá là một nghệ sĩ chơi đàn piano và là một nhạc sĩ có tài. Những tư tưởng mang tính cách mạng bộc lộ rõ trong con người ông, khiến chính Haydn lúc đó cũng không tiếp tục dạy Beethoven nữa vì những ý tưởng cách mạng quá táo bạo trong sáng tác trong khi tại Vienna lúc đó tư tưởng bảo thủ, cứng nhắc trong giới quí tộc vẫn bao trùm trong đời sống âm nhạc và nghệ thuật.

Năm 1796 Beethoven có triệu trứng bị điếc, năm 1801 dù cố tìm cách chữa chạy nhưng bệnh điếc của ông ngày càng trở nên trầm trọng và cũng chính trong thời kỳ này, tình yêu của ông “chớm nở” với nữ bá tước Giulietta Gucciardi,  cô học trò có vẻ đẹp “mê hồn”, theo như lịch sử âm nhạc thế giới còn ghi lại.

Ông yêu cô học trò dòng dõi quí tộc này và dù bị điếc nhưng ông vẫn sáng tác để tặng cô bản Sonata số 14 ( Moonlight ) hay còn được gọi là bản Sonata “Ánh Trăng ”.  Sở dĩ tại sao lại được gọi là bản Sonata Ánh Trăng là do nhà thơ người Ðức Ludwig Rellstab, cùng thời với ông đặt tên và sau này mọi người theo thói quen nên gọi như vậy.Ludwig Beethoven Manuscript

Trở lại với tình yêu mà Beethoven dành cho cô học trò và cũng là Bá tước Giulietta Gucciardi này đã không thành và bệnh tình càng thêm nặng, ông bỏ về sống ẩn dật tại một vùng quê gần Vienna trong sự đau khổ vì tình yêu.

Bản Sonata Ánh Trăng, Beethoven viết vào năm 1801 dưới dạng tự do, tức là hoàn toàn không tuân thủ theo những cấu trúc của một bản Sonata thường thấy trong trường phái cổ điển. Những giai điệu trữ tình, có âm hưởng lãng mạn, nhẹ nhàng chuyển động như những lời thủ thỉ của một chàng trai bên người tình khi màn đêm buông xuống hay nói khác đi, như những lời tỏ tình âu yếm, vuốt ve trong sự nhung lụa, nhưng đâu đó vẫn mang vẻ mơn trớn chiều chuộng xa hoa.

Sự thay đổi trong giai điệu, uyển chuyển, mang vẻ thầm kín được thể hiện dưới dạng Adagio làm nền cho những âm điệu chùm 3, thể hiện như bước chân người đi, bước cao, bước thấp theo ngẫu hứng và như lời than thở của một người đang yêu, đã yêu và sẽyêu nhưng bị chối từ tình yêu.

Qua bao thế kỷ, bản Sonata Ánh Trăng chẳng bao giờ tỏ mà cũng chẳng bao giờ mờ vì ngay chính tác giả của nó cũng chẳng bao giờ tìm được tình yêu cho chính mình và vì vậy nhân loại vẫn mãi mãi cần tới xônát Ánh Trăng như muốn tìm cho mình một niềm hạnh phúc chưa bao giờ có.

Beethoven's Grave in Zentralfriedh of Vienna

Ludwig van Beethoven 10/11 by AV Travel | Blog Talk Radio.

Việt Hùng

Photos:
Featured Image: Portrait of Ludwig van Beethoven when composing the Missa Solemnis. Artist: Joseph Karl Stieler (1781-1858)
House of birth Ludwig van Beethoven, Bonn/Germany, Bonngasse, 2008, Sir James
Beethoven Monument in Bonn.
Beethoven Signature
This portrait in oils is the earliest authenticated likeness of Beethoven. Photograph taken by the author of the painting in Die Sammlung alter Musikinstrumente, Kunsthistorisches Museum, Wien. 2006-08-24