Olga_Bergholz_portrait

St. Petersburg và Những Vần Thơ của Olga Berggolts

Khi đến nước Nga, nhất là đến thành phố St Petersburg, du khách thường được nghe nói đến tên tuổi của Pushkin: nhà thơ của tâm hồn Nga, nhà thơ của thiên nhiên Nga, nhà thơ của ngôn ngữ Nga.

Nhưng St Petersburg không chỉ gắn bó với tên tuổi của Pushkin. Trong hơn ba thế kỷ hình thành và phát triển của thành phố, đã có biết bao nhà văn, nhà thơ thiên tài khác đã góp phần tạo nên phong cách hào hoa, trữ tình cho thành phố này. Trong thế kỷ 20, một nhà thơ khác được  coi là tiếng nói của St Petersburg là một nữ thi sĩ, nhà thơ Olga Berggolts.

Monument of Olga Berggolts

Monument of Olga Berggolts

St. Petersburg & Olga Berggolts

Olga Berggolts trải qua một cuộc đời với rất nhiều thăng trầm, thử thách cũng như sự  trôi nổi của chính thành phố St Petersburg. Sinh năm 1910 trong một gia đình bác sỹ ở St. Petersburg. Bà tốt nghiệp khoa ngôn ngữ trường đại học tổng hợp Petersburg và trải qua 3 năm làm phóng viên cho tờ tạp chí “Thảo Nguyên Liên Xô” tại nước cộng hòa Kazakstan.

Trong thời gian này bà đã cho ra đời cuốn sách “Nơi Heo Hút”. Năm 1933 Olga Berggolts trở lại St Petersburg và đã gắn bó cuộc  của mình với thành phố này cho đến những ngày cuối cùng của đời mình.

Người ta biết đến tên tuổi của Olga Berggolts từ năm 1935, sau khi bà cho ra đời ba tuyển tập truyện ngắn và thơ mang tên “Những Năm Xung Phong”, “Đêm Trong Thế Giới Mới” và “Tuyển Tập Thơ”.

Năm 1938, cũng như nhiều nhà thơ, nhà văn Nga khác, Olga Berggolts bị bắt vì tội “chống lại nhân dân” và phải ngồi tù 7 tháng. Mãi tới giữa năm 1939 bà mới được  trả tự do và hòan toàn được phục hồi danh dự.

May mắn hơn nhiều người khác, bà được trở về với đời thường, nhưng dấu ấn của những ngày tháng trong tù còn đeo đuổi theo bà suốt cả cuộc đời. Bà viết trong cuốn nhật ký bí mật của mình như sau: Những năm tháng sau khi đã được trả tự do, nhưng bà không chỉ cảm thấy, ngửi thấy mùi nhà tù, mà còn cảm thấy cả cái cảm giác nặng nề của người ở trong tù nữa. Một cảm giác vô vọng, không lối thoát khi phải đi lấy cung. Người ta tìm cách dốc ngược  tâm hồn của con người, dùng những ngón tay bẩn thỉu mà moi móc trong đó, nhổ toẹt vào nó rồi lộn ngược trở lại và phán một câu chỏng lỏng: Sống đi!

Những dòng hồi ký này của bà chỉ mới vừa được công bố vào năm 2001, nghĩa là 26 năm sau khi bà đã mất.

Olga Berggolts đã chia sẻ với St Petersburg suốt cả 1,000 ngày đêm bị bao vây trong chiến tranh thế giới lần thứ 2. Bà làm việc trong đài phát thanh của thành phố và chính thời gian này tên tuổi của bà đã được biết đến như một nhà thơ vừa trữ tình vừa quả cảm của thành phố Petersburg.

Cũng như Pushkin, Olga Berggolts không chỉ làm thơ, mà còn viết rất nhiều truyện ngắn, truyện vừa, trường ca, tiểu luận. Ngay cả thơ của bà cũng gồm nhiều chủ đề khác nhau và tình ca chỉ chiếm một phần rất nhỏ trong đó. Nhưng những bài thơ vượt  thời gian đến với bạn đọc hôm nay phần chính  lại là những bài thơ đượm chất trữ tình.

St Petersburg-PalaceSquareNight

St Petersburg Palace Square

Hôm nay chúng tôi muốn giới thiệu với các bạn 2 bài thơ đặc sắc nhất của bà, cả hai bài đều là những bài thơ tuyệt tác về mùa thu. Bài “Mùa Lá Rụng” để diễn tả mùa thu ở Mạc Tư Khoa và bài “Mùa Hè Rớt” để nói về mùa thu ở St Petersburg. Olga Berggolts mất năm 1975 tại St. Petersburg. Tên của bà được đặt cho một con phố giữa trung tâm thành phố St. Petersburg, ngang hàng với những tên tuổi đã làm nên lịch sử  và cuộc sống của thành phố này.

Mùa Thu Nước Nga

Trước khi nói về những bài thơ mùa thu, Hoài Hương muốn nói đôi chút về mùa thu ở nước Nga. Theo lịch thiên nhiên, mùa thu kéo dài từ tháng 9 đến tháng 11. Nhưng trên thực tế, mùa thu mà các nhà văn, nhà thơ, họa sỹ hay nói đến không kéo dài lâu như vậy. Cái khoảnh khắc mà người ta ngợi ca chỉ kéo dài lâu nhất từ một đến hai tuần lễ.

Cuối tháng 9, trước khi những đợt gió lạnh và những cơn mưa dài lê thê đổ xuống, thiên nhiên hào phóng ban tặng cho mặt đất một khỏang thời gian ấm áp, đẹp đến lạ thường.

Autumn in RussiaCái khoảng thời gian  tuyệt đẹp đó các nhà thơ gọi là mùa hè rớt, hay mùa hè của các bà, mùa lá rụng, còn các họa sỹ thì gọi đó là mùa thu vàng. Dù được gọi bằng cái tên gì, thì khoảnh khắc tuyệt đẹp đó cũng chỉ là một. Nó vừa ngắn ngủi, vừa mong manh, vừa hiếm khi gặp được, bởi nó kéo dài nhiều nhất cũng chỉ hai tuần và không phải năm nào cũng có. Một đợt mưa đến sớm, mặt trời không xuất hiện, những trận gió bất ngờ…thế là hỏng cả mùa thu mong đợi.

Mãi đến thời kỳ của Pie Đại Đế trị vì vào thế kỷ thứ 18 nước Nga mới đón Năm mới vào ngày 1 tháng 1 như bây giờ. Trước đó, trong nhiều thế kỷ, người Nga đón Năm mới vào ngày 1 tháng 9. Tháng 9 là thời điểm các công việc đồng áng vất vả đã chấm dứt, các lãnh chúa cũng như địa chủ đã thanh toán tất cả tiền công cho nông dân.

Bắt đầu từ ngày lễ Thánh Ivan Đại Trai (29 tháng 8), khắp nơi trong nước Nga người ta tổ chức các hội chợ, vừa là nơi mang bán các nông sản phẩm thu hoạch được, vừa là nơi hội hè, vui chơi sau một năm làm việc vất vả. Chính vào thời điểm này, thiên nhiên ban tặng cho con người một khỏang thời gian ấm áp cuối cùng trước khi mùa đông đến và ở Nga người ta tận hưởng những ngày ấp áp đẹp đẽ này để tổ chức lễ hội, các bà các chị rủ nhau đi may áo mới, đi hát đối tại các hội chợ, làm những lọai bánh ngon nhất để thết đãi các đức ông chồng, các chàng trai đang ngấp nghé dạm hỏi.

Chính vì vậy mà khoảng thời gian mùa thu ấp áp này được gọi là mùa thu của các quý bà hay là mùa hè rớt. Người ta ví, mùa xuân như cô dâu chưa về nhà chồng, rực rỡ, e lệ và đỏng đảnh,  mùa hè như cô vợ mới cưới , nồng nàn, cháy bỏng và bồng bột .

Còn mùa hè rớt như người phụ nữ hồi xuân vừa đằm thắm, vừa thiết tha mà vẫn không kém phần tuyệt mỹ.

Hai bài thơ tình của Olga Berggolts

Olga Berggolts đã để lại rất nhiều bài thơ tình, nhưng có lẽ hai bài thơ về mùa thu của bà là tuyệt sắc nhất. Hai bài thơ mùa thu của bà không chỉ đẹp về ngôn ngữ, sâu sắc về nội dung mà nó còn hết sức đậm đà nữ tính.

Bài thơ “Mùa Lá Rụng” Olga Berggolts sáng tác năm 1938, khi mới 28 tuổi. Bài thơ được viết trong bối cảnh mùa thu của Mạc Tư Khoa, nơi người yêu của bà đang sống. Mùa thu Mạc Tư Khoa có gì lạ? Hãy nghe Olga Berggolts tả:

 Những đàn sếu bay qua, sương mù và khói tỏa
Trên Mạc Tư Khoa lại đã thu rồi
Những khu vườn như lửa cháy sáng ngời
Vòm lá sẵm, ánh vằng lên rực rỡ
Những tấm biển treo dọc trên đại lộ
Nhắc những ai đi ngang, dù đầy đủ lứa đôi,
Nhắc cả những ai cô độc trên đời
“Tránh đừng động vào cây mùa lá rụng”

 Olga Berggolts lên thăm người yêu, nhưng cũng là cuộc gặp gỡ cuối cùng khi tình yêu tan vỡ, để rồi một mình ra nhà ga trong những tiếng mưa rơi.  Nhưng rất lạ, những cơn mưa mùa thu thường lạnh buốt, cũng như tình yêu khi tan vỡ thường làm người ta tuyệt vọng. Nhưng Olga Berggolts lại có đủ nghị lực để nhìn thấy cái ấm áp của cơn mưa, cũng như nhìn thấy cuộc đời vẫn tiếp tục, dù tình yêu tan vỡ

Dịu dàng quá, dịu dàng không chịu nổi
Cơn mưa thầm thì trong lúc chia tay
Mưa chan hòa, mưa ấm áp nhường nào
Mưa run rẩy trong ánh chiều nhấp nhóang
Anh hãy vui lên dẫu con đường hai ngả
Tìm hạnh phúc bình yên trong ấm áp cơn mưa

Mùa thu Mạc Tư Khoa rất lạ, trên khắp những đường phố có cây xanh, người ta gắn những tấm biển nhỏ: đừng động vào cây mùa lá rụng. Người Nga cũng rất hay dùng câu thành ngữ: “đừng xát muối lên những vết thương lòng”. Phải chăng cái mong manh như lá mùa thu đã dậy cho con người bài học biết bao dung, tha thứ và yêu thương?

 “Tránh đừng động vào cây mùa lá rụng”
Nhắc suốt đường cũng chỉ bấy nhiêu thôi…

Bài “Mùa Hè Rớt” Olga Berggolts ấp ủ trong suốt 4 năm từ năm 1956, đến năm 1960 mới hoàn thành, khi đó bà đã 50 tuổi, đúng là cái tuổi của “mùa hè rớt”, cái tuổi để biết nhẫn nhịn và quý trọng tình yêu hơn.

 Có một mùa trong sáng diệu kỳ
Sức nóng êm ru, mầu trời không chói
Mùa hè rớt cho những người yếu đuối
Cứ ngỡ ngàng như trời mới vào xuân
Trên má mơ hồ tơ nhện bay giăng
Se sẽ như không, nhẹ nhàng phơ phất
Lanh lảnh bầy chim bay đi muộn nhất
Hoa cuối mùa sặc sỡ đến lo âu
Những trận mưa rào đã tắt từ lâu
Tất cả thấm trên cánh đồng lặng sẫm
Hạnh phút được yêu đã ít hơn xưa
Ghen tuông dù chua chát cũng thưa hơn
>Ôi cái mùa độ lượng rất thân thong
Ta tiếp nhận người vì người sâu sắc quá
Nhưng vẫn nhớ trới ơi tôi vẫn nhớ!
Tình yêu đâu? Rựng lặng bóng sao im…
Sao ơi sao, sao sắp rụng vào đêm
Ta biết lắm thời gian đang vĩnh biệt
Yêu thương,
Giận hờn,
Tha thứ
Chia tay….

Olga Berggol đã diễn tả mùa hè rớt như vậy đó: vừa dịu dàng, vừa rực rỡ vừa nhẫn nại chịu đựng. Mùa thu là lúc người ta tận hưởng thành quả của cả mùa hè và mùa xuân vất vả lao động. Mùa thu mang lại cho con người ta biết quý trọng những hạnh phúc đơn sơ mà mình có được: những bông hoa cuối cùng, những tia nắng ấm cuối cùng, một bầu trời xanh hiếm muộn ló ra, cũng như người ta bỗng cảm thấy thật hối tiếc khi nghĩ về một cuộc tình đẹp đã tan vỡ thời tuổi trẻ.

St Petersburg_summer garden

Summer Garden

Người ta thường nghĩ, mùa thu là mùa của chia ly, mùa của tàn tạ và có cảm giác sợ mùa thu. Nhưng Olga Berggolts đã chỉ cho chúng ta thấy một thông điệp hoàn toàn khác của thiên nhiên: Hãy biết quý trọng tất cả những gì chúng ta đang có. Hạnh phúc cũng mong manh như lá thu, hãy nâng niu khi nó còn ở trên cành.

 Hoài Hương

 

 

 

 

Photos: 1. Olga Berggolts’ Portrait, PD. 2. The Twelve Collegia building of Saint Petersburg State University, PD 3. Palace Square in the Winter, PD 4. The Summer Garden, PD 5. Photograph of the dock path in Russia Dock Woodland, looking North from Onega Gate. 2009, Cloning jedi.

Little Match Seller

Cô Bé Bán Diêm – The Little Match Girl

Portrait of Hans Christian Andersen

Hans Christian Andersen, Author

Hans Christian Andersen (1805-1875), nhà thơ, tiểu thuyết gia Đan Mạch, nổi tiếng với những truyện cổ tích viết cho thiếu nhi. Tuy nhiên, những tác phẩm tiêu biểu nhất của ông đều có nội dung sâu sắc, gây ấn tượng sâu sắc, và thực chất là dành cho người lớn thì đúng hơn.

Trong số ấy, phải kể đến “Cô Bé Bán Diêm” (Tiếng Đan Mạch: Den Lille Pige med Svovlstikkerne, Anh Ngữ: “The Little Match Girl – The little girl with the matchsticks”, – tựa đề nguyên thủy: “Cô Gái Bé Nhỏ với Những Que Diêm”), một kiệt tác chỉ bó gọn trong chừng nửa trang báo, đã để lại những giọt nước mắt thương cảm và những cảm xúc về lòng trắc ẩn trong lòng nhiều thế hệ độc giả.

Với nội dung đơn giản, lấy một mô-típ (ý tưởng) về một cô bé nghèo khổ phải đi bán diêm giữa tiết đông giá buốt để rồi từ giã cõi đời trong đêm giao thừa. “Cô Bé Bán Diêm” là lời phê phán nghiêm khắc trước sự thờ ơ, lạnh lẽo của con người trước nỗi thống khổ của đồng loại.

Có kết cục tưởng chừng không có hậu như những câu chuyện cổ tích thông thường khác, nhưng tác giả đã có dụng ý khi để cô bé “rời bỏ vĩnh viễn thế giới đen tối này trong vòng tay của bà”, mà “nào có ai biết rằng, cô đã nhìn thấy bao cảnh tuyệt vời, được bao phủ bởi bao vầng sáng” trên cõi thiên đàng của Thiên Chúa.

Một thế kỷ rưỡi từ khi ra đời, “Cô Bé Bán Diêm” đã được dựng thành phim, kịch, nhạc kịch và  ca khúc. Không biết bao nhiêu lần và thông điệp của tác phẩm, đến giờ, vẫn không phai nhạt!

Giao thừa năm ấy trời thật lạnh và tuyết rơi xối xả. Trời đã xế chiều, trong bóng tối và giá lạnh, một em bé đầu trần, chân đất cùng những gói diêm vẫn lang thang dọc phố mặc cho những bông tuyết rơi đầy trên mái tóc hoe vàng xõa ngang vai. Đôi giày quá rộng vốn là của mẹ, một chiếc đã bị cuốn theo bánh cỗ xe song mã lướt nhanh khi em băng qua phố, chiếc kia thì một thằng bé lấy đi.

Hans Christian Andersen, Copenhagen

Hans Christian Andersen, Copenhagen

 Các cửa sổ đã sáng đèn và mùi ngỗng quay thơm lừng tỏa ra. Bé vẫn biết hôm nay là giao thừa nhưng không dám về nhà, chắc bố sẽ đánh đòn vì cả ngày chưa bán được lấy một xu, với lại ở nhà nào có hơn gì, nó chỉ có mỗi cái mái dột nát mặc cho gió rít. Cuộn người trong góc giữa hai ngôi nhà nhưng tay chân vẫn đóng băng vì lạnh, em chợt nghĩ biết đâu bật diêm lên sẽ tốt hơn, chí ít cũng có thể sưởi ấm những ngón tay. Que thứ nhất bật lên, hơ tay trên ngọn lửa ấm áp sáng bừng như cây nến nhỏ, em tưởng mình đang ngồi trước chiếc lò sưởi sắt to với chân đế và tháp trang trí bằng đồng. Lửa vụt tắt, lò sưởi biến mất, chỉ còn lại trong tay em là nửa que diêm cháy dở.

 Cô bé bật que diêm thứ hai, bức tường trước mặt bỗng trở nên trong suốt, bé nhìn thấy trong nhà là một bàn ăn phủ khăn trắng như tuyết với con ngỗng quay nhồi táo và mận khô đang bốc hơi nghi ngút. Và lạ kỳ chưa! con ngỗng bỗng từ trên đĩa nhảy xuống, lạch bạch tiến về phía em với dĩa và dao cắm ở ngực. Bỗng que diêm phụt tắt, chẳng còn gì ngoài bức tường dày tối tăm, ẩm ướt và lạnh lẽo ngay trước mặt.

 Bé bật một que diêm nữa, và thấy mình đang ngồi dưới cây thông Noel trang hoàng dây nến và tranh rực rỡ. Với tay về phía cây thông, que diêm tắt lịm, em thấy ánh nến bay lên cao, cao mãi trông như những vì sao. Rồi một vì sao rơi xuống, “Ai đó đang từ giã cõi đời”, em bé nghĩ vì nhớ đến lời bà, người duy nhất yêu quý mình trên cõi đời này.

 Cô bé bật que diêm thứ tư, ánh sáng bỗng bao trùm, giữa vầng sáng, bà đang đứng đó, mỉm cười hiền hậu và âu yếm. “Bà ơi!”, em khóc nấc lên, “Bà mang cháu đi cùng nhé!. Cháu biết bà sẽ rời bỏ cháu khi que diêm cháy hết, bà sẽ biến mất như chiếc lò sưởi ấm áp kia, như chú ngỗng quay và cây thông rực rỡ”. Em vội vàng cho cả gói diêm vào ngọn lửa, ánh sáng bừng lên còn hơn cả vầng dương và bà trông như chưa đẹp lão, cao lớn đến thế bao giờ. Bà ôm em trong vòng tay rồi cả hai cùng bay lên, trong ánh sáng và niềm hân hoan, xa dần mãi mặt đất, đến với Chúa, đến nơi không còn đói khát và nỗi khổ đau.

Hans Christian Andersen Statue - Central Park, NYC

Hans Christian Andersen Statue – Central Park, NYC

 Rạng sáng hôm sau, người ta thấy cô bé đáng thương đang ngồi tựa vào tường, má ửng hồng, nụ cười nở trên môi. Em đã chết cóng, tay vẫn nắm chặt những que diêm, một nhúm đã cháy tàn. “Nó cố sưởi ấm cho mình”, mọi người nói mà không biết được những gì đẹp đẽ em đã nhìn thấy cũng như cõi thiên đàng mà em cùng đến với bà. 

Hoàng Linh

Photos:

1. Spook – Efteling, 2008, Jeroen Kransen. 2. A portrait of the Danish writer Hans Christian Andersen, 1869, Thora Hallager (1821-1884).  3. Hans Christian Andersen statue in Kongens Have, Copenhagen, Denmark. This statue is in the public domain because the sculptor has been dead more than 70 years, 2012, Daderot  4. HCA statue in New York City’s Central Park, 2010, Dismas.

Năm Đêm Trắng – Dostoevsky

Những đêm trắng ở Saint Petersburg đó là khoảng thời gian mặt trời có mặt trên bầu trời lâu nhất trong năm, và đêm chỉ là một ranh giới rất mong manh, mơ hồ giữa hai khoảng khắc hoàng hôn và bình minh đan xen vào nhau.

Đêm trắng không phải là một hiện tượng hiếm có của thiên nhiên vì theo lời hẹn ước năm nào cũng đến. Đêm trắng kéo dài trong một thời gian khoảng gần hai tháng mùa hè. Đêm trắng không phải chỉ có ở Saint Petersburg, nước Nga mà ở nhiều thành phố Bắc Âu khác như Helsinki, Phần Lan (Finland) hay Stockholm, Thụy điển (Sweden), người ta cũng có thể chiêm ngưỡng những đêm trắng mờ ảo, chập chờn, mơ hồ giữa ngày và đêm.

Nhưng nói tới đêm trắng là người ta thường chỉ nhắc đến những đêm trắng ở thành phố Saint Petersburg. Và năm nào cũng vậy vào khoảng thời gian có đêm trắng, hàng triệu triệu du khách từ khắp nơi lại tìm về đây để chiêm ngưỡng, để mơ mộng, để thả hồn vào cõi mây trời, sông nước trữ tình. Đêm trắng ở Saint Petersburg quyến rũ nhờ vào vị trí đặc biệt của dòng sông Neva và nhiều con sông nhỏ chảy qua thành phố tạo nên một khung cảnh nên thơ, lãng mạn và bàng bạc.

Scarlet Sail_White Nights

Đêm trắng ở Saint Petersburg thật “gợi cảm” với hình ảnh những cây cầu mở trên sông Neva sừng sững trong ánh sáng chập chờn của hoàng hôn vào lúc từ 1-2 giờ sáng. Nhưng có lẽ đêm trắng ở Saint Petersburg đặc biệt và đáng nhớ ở chỗ nó rất có hồn. Dường như đêm ở đây có một đời sống riêng, một tâm tư riêng và một khoảng khắc riêng.

Nhắc tới Những Đêm Trắng ở Saint Petersburg thì không thể không tới Dostoevsky, một cây đại thụ trong văn học Nga thế kỷ thứ 19, đã viết rất nhiều về cuộc sống của Saint Petersburg, về những đêm trắng ở đây. Đáng kể nhất là cuốn tiểu thuyết “Năm đêm trắng” ông viết riêng về những đêm trắng ở thành phố này.

Năm đêm trắng là một trong những cuốn tiểu thuyết đầu tay của nhà văn. Ông cho công bố vào năm 1848, khi mới 27 tuổi. Đây là thời kỳ Dostoevsky còn chưa bị bắt, chưa bị đi đầy và chưa bị nỗi kinh hoàng vì chết hụt đầy đọa. Giọng văn của ông còn hết sức ngọt ngào, những nhân vật của ông hết sức mơ mộng, còn cuộc sống trong chuyện hết sức thanh bình, yên ả. Nhưng đó cũng chính là cái không gian hết sức đặc biệt của những đêm trắng. Cái không gian đã được Dostoevsky mô tả là thật kỳ diệu, không gian mà người ta chỉ có thể cảm nhận được khi còn trẻ, khi còn đầy mơ mộng và chờ đợi.Dostoevsky-portrait

Trong “Năm đêm trắng”, người đọc chỉ gặp hai nhân vật, một người đàn ông 26 tuổi, không biết ông tên là gì, ông tự gọi mình là một người mơ mộng. Người mơ mộng là một công chức bình thường, như bao người khác, ông có công việc, có nhà ở, nhưng cũng là không có gì hết, không người san sẻ, không bạn đồng hành, chỉ có những giấc mơ.

Và người thứ 2 là cô gái Nachenka bé bỏng, dễ thương. Tuy cô không gọi mình là một người mơ mộng, nhưng cô còn mộng mơ hơn cả người mơ mộng nữa. Cô mồ côi từ nhỏ, sống với một người bà mù lòa, suốt ngày phải ngồi bên cạnh bà, không hề được tiếp xúc với ai, đi đâu chơi. Thế giới của cô là một thế giới những ước mơ xen lẫn với những câu chuyện cổ tích của bà kể lại.

Họ gặp nhau trong 5 đêm mùa hè thật đặc biệt, như một sắp xếp của định mệnh. Cả hai được thoát ra khỏi thế giới cô độc của mỗi người. Được chia sẻ, được thương yêu, được hiểu rằng cuộc đời thật là thú vị và hạnh phúc. Và rồi họ mãi mãi chia tay. Nachenka gặp lại vị hôn phu của mình vào đêm trắng thứ 5. Cô không còn ra bờ sông ngóng chờ và trò chuyện với người mơ mộng nữa. Mỗi người lại trở về với đời sống bình thường, những công việc quen thuộc. Chỉ có điều, giờ đây họ đã không còn là những kẻ bất hạnh nữa, họ có những kỷ niệm thật đẹp về năm đêm trắng để hồi tưởng, để nhớ lại suốt đời. Và như người mơ mộng đã thốt lên, năm đêm trắng thoáng qua như một phút giây hạnh phúc tuyệt vời, và dù chỉ là một phút giây, thì nó cũng đủ cho tất cả đời người.

Panorama of Saint Petersburg

Năm đêm trắng của Dostoyevsky là câu chuyện tình trong sáng mà đứa trẻ lớn lên nào ở Nga cũng từng đọc qua, từng say mê, và những đêm trắng ở Saint Petersburg không chỉ là chuyện của mặt trời và sóng nước, nó đã trở thành những kỷ niệm thật khó quên của biết bao nhiêu thế hệ, trở thành biểu tượng của những câu chuyện về tình yêu, tình bạn chẳng thể nào phai.

Hoài Hương

Mạc Tư Khoa, Liên Bang Nga

Photos: 1.  Fireworks on Scarlet Sails, 2007, Marina Lystseva    2. Portrait of Fedor Dostoyevsky, Oil on canvas, 1872, Artist: Vasily Perov.  3.  The River Neva flows through much of the centre of the city. Left – the Spit of Vasilievsky Island, center – River Neva, Peter and Paul Fortress and Trinity Bridge, right – Palace Embankment with the Winter Palace, 2004, Panther. Featured Image: View from Sowjetskaja Hotel to St. Nicholas Cathedral around midnight in July. In the background Saint Isaac’s Cathedral and the towers of Saint Peter & Paul Cathedral can be seen, 2004, Herbert Ortner

bien hoa's rice field

She Came From Bien Hoa, Vietnam

This is a very recent writing. I was introduced to a pickled item found in a jar with calligraphy I could not read. But when I tried it, it proved pleasing to the palate. The placing of goods in jars for long periods of time is very common in a country like Vietnam because of the lack of electricity and refrigeration. The writing below is just a reflection on being introduced to the flavor. Roger Vergnes 

She Came From Bien Hoa, Vietnam

Have you ever met someone from Bien Hoa? 

Have you ever been to Saigon?
Well, just northwest lies the town
where you can taste strands
of pickled, papaya fruit
mixed with slices of lotus root.

It comes in mason jars,
in which the labeled words
is calligraphy you and I don’t understand,
but trust once your palate
has been brushed
by such perk(y)ness.
I’ve even been taught (by her)
to wrap it in spring rolls.

With these simple,
epicurean pleasures,
we come to see
why cultures rise
and thrive
and sustain in all
their cannery forms.

Without refrigeration
the women of many past generations
understood well how to preserve
their culinary treasures
in all their tartness, and now
display to fervent foreign curiosity . ..

Roger Vergnes

 

 Painting: School girl with bird. Artist: Do Duy Tuan.

 

Petőfi Sándor – Online Radio

Painting of Petofi Sandor_1844 by Orlay

Vùng lên dân Hung
Tổ quốc vẫy gọi
Thời cơ đã đến
Giờ, hay không bao giờ
Sẽ là nô lệ
Hay người tự do
Câu hỏi là đây
Bạn hỡi, lựa chọn!

Hỡi thánh thần của người Hung
Chúng con xin thề
Sẽ không bao giờ chịu kiếp nô lệ!

Chương trình Vòng Quanh Thế Gii phát thanh trên mng do AV Travel thc hin.

 Chương trình phát ngày 28 tháng 8, 2012 lúc 11g sáng  (giờ miền Tây Hoa Kỳ)

 Xin bm vào link dưới đây đ nghe và ph biến cho bn bè, người thân.

Sándor Petőfi – Hungarian Poet 08/28 by AV Travel | Blog Talk Radio.

Bài Viết Về Thi Sĩ Petőfi Sándor