Hà Nội Vắng Những Cơn Mưa

Mới hôm nào Hoàng Linh từ Budapest còn nhắc, trời Cali đã vào thu hay chưa mà sao chưa thấy Quỳnh Như, Simone Nga và Việt Hùng nhắc tới mùa thu, trong khi bên trời Âu thu đã thay màu áo, con đường mới hôm nào đưa du khách đi qua nay lá đã đổi màu chao liệng bay theo chiều gió. Vậy là thu đã về. Thu về Thu chẳng hẹn ai, Thu đi Thu cũng chẳng ai hẹn về. Phàm đời người xưa thường ví mùa Thu như một cái bóng, cái bóng của những tiếng lá rơi xào xạc, với hương gió thoảng…

giot-mua-thu

Mùa thu cũng là mùa giao thời, mùa để độ hoa vàng từ rực rỡ của mùa hè sang cái lạnh giá của mùa đông, cũng như bước chuyển của một mối tình đang dần vào dĩ vãng chỉ để lòng ai chốn lạnh lùng, khi lòng tự hỏi

Về bên ấy, đã vắng người sang những chuyến đò …

Mời bạn nghe Hà Nội Vắng Những Cơn Mưa:

http://www.blogtalkradio.com/av-travel/2014/11/20/ha-hoi-vang-nhung-con-mua

exterior vew of Hagia Sophia

Istanbul, Turkey (II)

Istanbul, ngay từ năm 660 trước Công lịch với tên gọi Byzantium, đã là một trong những thành đô huy hoàng nhất trong lịch sử nhân loại thời đó. Đó là nhờ ở vị trí chuyển tiếp hài hòa 2 nền văn minh cổ kim và Đông –Tây, như chúng tôi đã minh họa ở Kỳ 1 qua một số địa chỉ du lịch đặc sắc.

Tiếp theo, mời quý bạn thăm viếng 3 danh thắng tuyệt diệu khác tiêu biểu cho 3 lãnh vực của Istanbul; đó là Thánh đường Hagia Sophia, Cầu GalataChợ Istanbul.

HagiaSophia interior

Hagia Shophia, Istanbul

Thánh đường Hagia Sophia từng là nhà thờ lớn nhất thế giới trong suốt 1000 năm, cho tới khi nhà thờ Seville trung cổ ở Tây Ban Nha hoàn thành vào năm 1520. Hagia Sophia là thánh đường có kích thước to lớn, kiến trúc vĩ đại, trang trí đẹp đẽ. Sự nổi tiếng của nó là vòm trần lớn mang phong cách kiến trúc Byzantine.

Vốn là một thánh đường Thiên Chúa có từ thế kỷ thứ 4, Hagia Sophia đã bị đốt cháy 2 lần trong chiến trận. Nét kiến trúc đang trình diễn trước mắt bạn là từ lần tu sửa thứ 3 vào năm 532 đang còn tới nay. Đến năm 1453 khi Istanbul bị đế chế Ottoman chiếm đoạt, nhà thờ này bị tái tạo thành nhà thờ Hồi giáo. Các nhà thiết kế đã thật tài tình khi dùng vôi vữa tô phủ lên những hình ảnh tôn giáo bên trong nhà thờ; rồi bàn thờ và các tháp Hồi giáo được bổ sung. Theo chỉ dẫn của hướng dẫn viên, bạn sẽ thấy trên tường nhà thờ đang mang dấu tích của cả 2 tôn giáo. Mãi tới năm 1935, Thánh đường Hagia Sophia được chuyển thành bảo tàng viện để công chúng vào chiêm bái như một công trình kiến trúc và lịch sử của loài người.

Tính cả phần mới mở rộng, Nhà thờ Hagia Sophia có hình chữ nhật với chiều dài 135 mét, rộng 70 mét, mái vòm chính mang đường kính 31 mét và chiều cao 55 mét. Và còn nhiều vòm nhỏ khác đã cùng tạo thành một tòa nhà tâm linh đồ sộ và uy nghiêm giữa trời xanh, khiến lòng người thêm thánh thiện.

Interior panorama of the Hagia Sophia

Interior panorama of the Hagia Sophia

Bạn sẽ thấy mình nhỏ bé khi lọt vào lòng thánh đường là khoảng không rộng rãi, và sự tương phản ánh sáng qua hàng trăm ngọn đèn trần càng làm tăng vẻ lộng lẫy của Thánh đường Hagia Sophia. Bạn có thể thắc mắc vì sao bệ thờ Hồi giáo quan trọng như vậy lại nằm ở một góc của thánh đường? Đúng thế, vì nếu tính theo hướng địa lý thì đó là hướng của thánh địa Mecca! Với Quý vị lần đầu thăm viếng một thánh đường đạo Hồi, trang trí của Hagia Sophia sẽ là dịp nhập tâm tốt lành, qua những chữ Ả Rập theo kinh Koran và nhất là qua các hình ảnh hình học hay hoa lá, cỏ cây… Theo những bậc thang, du khách có thể leo lên tầng cao theo vòng cung mái vòm và ngắm toàn thể nội thất của thánh đường từ trên cao.

The Mihrab located in the apse

The Mihrab located in the apse

Với sự bao dung tôn giáo của kiến trúc Thánh đường Hagia Sophia, hiện nay chính quyền Thổ Nhĩ Kỳ đang cho bóc lớp vữa tô trát để phục sinh những hình ảnh tôn giáo của đạo Chính thống. Một công trình kiến trúc đẹp đẽ sẽ trở nên cao cả khi mang các nét tốt lành của nhiều loại tâm linh, dù các tâm linh đó theo niềm tin khác nhau. Người theo đạo Hồi giáo Ottoman năm xưa khi chiếm thành Istanbul của người Thiên chúa đã không phá hủy mà lại biến đổi thành một thánh đường; đó là ví dụ cho sự chung sống của con người.

Thành phố Istanbul là địa chỉ văn hóa tiêu biểu của thế giới hiện đại là vì thế!

Istanbul còn là xứ sở lừng danh qua những cây cầu đẹp và độc đáo; trong đó Cầu Galata được mang danh “Cây cầu thành phố trong thành phố cầu”.

Cầu rộng tới 42 mét và chỉ dài 500 mét vắt từ Đông sang Tây trái đất, từ Á châu sang Âu châu của lục địa đã di chuyển biết bao nhiêu là bàn chân qua khu phố cổ như Eminönü, Fatih sầm uất cùng những danh thắng như cung điện Topkapi, bảo tàng Hagia Sophia, nhà thờ Blue Mosque… Leo lên tháp Galata ở đầu cầu phía đông bắc, du khách có thể phóng tầm nhìn toàn cảnh Istanbul và kéo dài sang vịnh Bosporus. Một chỗ đứng bao la, hùng tráng mà con người Istanbul đã làm nên bằng máu và mồ hôi của ngàn thế hệ!

Như mọi công trình khác trên Istanbul, lịch sử của Cầu Galata nhuốm nhiều sự kiện lâm ly và oanh liệt. Được xây cất lần đầu vào năm 1845, trải qua 5 lần tu sửa với lần chót là năm 1912, hiện nay Cầu Galata đạt lượng giao thông đáng kinh ngạc với hàng ngày có nửa triệu người và xe cộ đi lại!

Galata Bridge on the Golden Horn

Galata Bridge on the Golden Horn

Thật ra, từ thế kỷ 16, Đức vua Bayezid Đệ nhị đã hình dung ý nghĩa của một cây cầu nối hai khu vực sầm uất Âu và Á trên cửa biển Sừng Vàng. Dự tính vĩ đại đã vang sang nước Ý và tất nhiên lọt vào tầm ngắm của kiến trúc sư vĩ đại Leonardo da Vinci. Sử sách kể rằng, thiên tài đã vẽ ngay phác thảo cho cây cầu và gửi tặng Đức vua vào năm 1502. Thế nhưng, chắc do nhân duyên chưa hợp mà phác thảo của Leonardo da Vinci đã không đến được nơi cần nhận và tận đến năm 1952 người ta mới tìm thấy tài liệu vô giá đó! Sách còn chép, một thiên tài khác là Michelangelo cũng được Đức vua Bayezid Đệ nhị mời gọi làm công trình sư, song việc cộng tác bất thành vì lý do tôn giáo.

Không đẹp về chi tiết, không đồ sộ về tổng thể, lại lọt thỏm trong một thành phố nổi tiếng với các cây cầu đẹp và dài, nhưng Cầu Galata mang nhiều ý nghĩa khác. Đó là chiếc cầu không chỉ nối hai bờ mà còn giao lưu hai thế giới, hai thời kỳ lịch sử, hai nền văn hóa!

Cầu Galata luôn là “nhân vật chính” trong nhiều tác phẩm ở các bộ môn nghệ thuật của Thổ Nhĩ Kỳ và thế giới: từ hội họa đến văn thơ, từ nhiếp ảnh tới điện ảnh, từ âm nhạc tới kiến trúc… Vào lúc chiều tà ánh nắng màu mật ong rải xuống Istanbul thì Cầu Galata là nơi hội tụ của các nhà nhiếp ảnh cùng các cô siêu mẫu giống như những màn catwalk thời trang giữa thanh thiên bạch nhật trên sông nước hữu tình. Thi sĩ nổi tiếng người Thổ Nazim Hikmet đã tặng Cầu Galata những lời như sau: “Đó là thân hình mảnh mai của con chim nhỏ giang đôi cánh mở nối hai bờ cửa biển Sừng Vàng”.

Chợ Istanbul thật sự là nơi làm nên xã hội Istanbul! Không đến các chợ Istanbul kể như chưa biết thành phố Istanbul, tức là chưa biết con người và đất nước Thổ.

Chất huyền thoại Á và Âu của Thổ Nhĩ Kỳ hiện rõ qua không khí khác thường ở những khu chợ Istanbul rực rỡ và huyên náo. Nói thách “giá trên trời” và trả “giá sát đất” là đặc tính sinh hoạt buôn bán của dân Thổ. Họ có thể nói thách từ 5-10 lần giá bán, và bạn cũng hồn nhiên mà kéo xuống ngần đó rồi cả hai cùng tươi cười với giá phải chăng. Rất hiếm có vị khách nào từ các chợ Istanbul ra về với tay không cùng sự bực mình!

Lantern Shop -  Grand Bazaar, Istanbul

Lantern Shop – Grand Bazaar, Istanbul

Chợ Lớn (Grand Bazaar)tên địa phương Kapali Çarşi với nghĩa “chợ trong nhà”) là trung tâm thương mại của khu phố cổ Istanbul được xây từ năm 1455. Quả là một trong những khu chợ có mái che lớn nhất và cổ xưa nhất thế giới!

Với diện tích chợ 310 ngàn mét vuông, Chợ Grand Bazaar có tới 4000 tiệm lớn nhỏ bán đủ các loại hàng; từ vàng, bạc, đá quý tới thảm, đồ sứ, đồ da, quần áo, gia vị…. với mỗi ngày có hơn 300 ngàn lượt người viếng thăm. “Thành phố chợ Grand Bazaar” có tất cả 61 con đường nhỏ, 4 đài phun nước cùng rất nhiều nhà hàng, tiệm giải khát.

Grand Bazaar Shops - Istanbul

Grand Bazaar Shops – Istanbul

Sự thiêng liêng của chợ còn thể hiện qua 2 thánh đường Hồi giáo nằm trong đó. Điều hiếm thấy nữa là người bán trong Chợ Grand Bazaar chỉ là đàn ông mà hầu như không có phụ nữ. Buôn bán, cư xử rất hiếu khách và dễ chịu, điều hiển nhiên là họ khá rành rẽ tiếng Anh trong giao dịch.

Nằm bên bến tàu biển Eminonu, Chợ gia vị Ai Cập (Spice Bazaar) là khu chợ trong nhà khác ở Istanbul với diện tích nhỏ hơn Grand Bazaar. Đó là một “thế giới gia vị” được hình thành từ thời đại Ottoman. Phải đến Chợ gia vị Ai Cập, bạn mới hiểu hết sự tinh tế đến siêu đẳng từ nghệ thuật ẩm thực của dân tộc Thổ.

Vậy là Quý bạn đã làm khách của Istanbul, cũng như 7 triệu du khách ngoại quốc từng đến đó trong năm 2010, khi thành phố nhận danh hiệu Thủ đô Văn hóa Âu châu.

Spice Bazaar - Istanbul

Spice Bazaar – Istanbul

Spice Bazaar Shops, Istanbul

Spice Bazaar Shops, Istanbul

Đứng hàng thứ 10 của Danh sách thành phố du lịch tốt nhất thế giới trong vài năm qua, Istanbul đã là lựa chọn quý giá cho bạn. Chất huyền thoại lẫn hiện thực trong đời sống con người tân cổ hiển lộ với tất cả sự sang hèn, vẻ rực rỡ và cái dở tệ.

Chính vẻ đẹp thiên nhiên của vùng Địa Trung Hải, nét huyền bí của 2 tôn giáo lớn cùng sự tương phản và pha trộn các nền văn hoá đã làm nên một Istalbul không thể lặp lại trên trái đất này!

 Diễm Thi

 Photos:  Featured photo: “Hagia Sophia Mars 2013” by Arild Vågen ; 1. “AYA Sophia 2012” Illustration by Gaspare Fossati and Louis Haghe from 1852, 2. Galata Bridge, 2009 by Bjørn Christian Tørrissen. 3. Lanterns in a shop in the Kapalıçarşı (Grand Bazaar) in Istanbul, Turkey, 2009 by Laszlo Ilyes. 4. Grand Bazaar Shops, 2010 by Dmgultekin.  5. Istanbul Misir Carsisi, Spice Bazaar, Public Domain. 6. “Istanbul Spice Bazaar” 2007 by Takeaway. 6. The The mihrab, inside Hagia Sophia, “Haga Sofia RB5″. Licensed under Creative Commons Attribution-Share Alike 3.0 via Wikimedia Commons. 7.”Hagia Sophia Interior Panorama” , 2010 by Ronan Reinart

Myanmar – Miến Điện

Bagan – Xứ Sở Của Chùa Vàng Tráng Lệ

Dù được gọi là Burma (tiếng Việt là Miến Điện) trước kia, hay là Myanmar hiện naythì quốc gia này đang địa điểm du lịch đầy bí ẩn và hấp dẫn của thế giới hiện đại! Mặc dù   người biết đến nhưng Myanmar (Miến Điện) là nơi có những ngôi chùa đẹp tuyệt trần mà gần đây du khách thập phương mới có cơ hội thăm viếng.

Các năm qua, Myanmar đã cô lập với thế giới bên ngoài về chính trị và xã hội nhưng về du lịch thì đang mở rộng cửa vì là một ngành kinh doanh quan trọng của quốc gia! Kể từ năm 1989, tên tiếng Anh của quốc gia này là Myanmar thay vì là Burma từng quen thuộc trên thế giới.

Cảnh thiên nhiên yên tịnh và lòng hiếu khách của người Myanmar luôn để lại cho du khách cảm giác khó phai mờ. Khí hậu Á Châu ở đây kết hợp hài hòa giữa thiên nhiên và con người. Đây sẽ là cuộc hành hương và khám phá đất nước được coi là một trong những xứ sở sùng đạo Phật nhất thế giới.
Myanmar-Southern Gate
Các địa danh du lịch hấp dẫn nhất Myanmar là ba cố đô Bagan¸ Yangon, và Mandalay. Hai danh thắng vào loại bậc nhất toàn cầu là cây cầu gỗ Ubein dài nhất thế giới, và hồ Inle là một mê cung gồm các nhà sàn.

Trong bài hôm nay, sau khi cùng nhìn lại các nét độc đáo của đất nước Myanmar, mời du khách viếng thăm cố đô Bagan.

Nằm trong vùng Đông Nam Á, Myanmar ở phía tây bán đảo Trung Nam, có diện tích gần gấp đôi Việt Nam với dân số 55 triệu người với 135 sắc tộc. Dân Myanmar chiếm 65% dân số. Thủ đô Myanmar là thành phố Naypyidaw. Thành phố lớn nhất Myanmar là cố đô Yangon.

Myanmar có tài nguyên khoáng sản rất lớn, đặc biệt là vàng nên còn có tên là “Đất Vàng” (The Golden Land). Những pho tượng Phật rất mỹ thuật bằng vàng hay dát vàng được triển lãm khắp xứ sở này.

Tính chất du lịch của Myanmar rất đặc sắc. Đó là vì Myanmar là quốc gia Phật giáo với 85% dân số theo đạo Phật. Khắp đất nước, tháp Phật luôn có mặt, nổi tiếng nhất là tháp vàng Shewe Dagon ở cố đô Yangon, và một quần thể chùa Phật gồm hơn 200 ngôi chùa ở cố đô Bangan.

Thật kỳ lạ là những lá vàng mỏng dính do người dân, từ già tới trẻ, và tất nhiên có cả du khách, đã đính vào và làm cho những pho tượng ngày thêm lộng lẫy. Ngoài vàng bạc, rất nhiều pho tượng, vật trang trí trong các ngôi chùa còn được đính kim cương và đá quý. Người dân Myanmar đã dành tài sản và thời gian đóng góp cho chùa vì xem chùa là nhà, là nơi đi về để có yên bình và thanh thản. Thật hiếm có nơi nào trên trái đất này mộ Phật đến thế!

 Myanmar-Karaweik-PalaceTới với “đất nước hàng xóm” của quê hương Việt Nam, du khách sẽ có nhiều bất ngờ thú vị. Đó là những phụ nữ Myanmar bôi kín đôi má bằng bột trắng coi rất ngộ; còn nam giới thì trong trang phục gần giống váy và nhai trầu suốt ngày! Người Myanmar không ăn cơm bằng đũa hay muỗng. Họ ăn bốc giống như người Ấn Độ. Bên bàn ăn trước mặt mỗi người có một chậu nước nhỏ, để trước khi ăn rửa sạch tay tr ước khi dùng tay không bốc cơm. Người Myanmar không có họ, mà chỉ có tên. Khi chào hỏi nhau, người Myanmar thường chắp hai tay trước ngực hoặc cúi đầu.

Đất nước bí ẩn và gần gũi này sống với triết lý nhà Phật khắp mọi nơi với bóng nhà sư khất thực mỗi sáng và dân cư ở các phố xá sống rất thân thiện. Và cũng vì nhịp độ phát triển kinh tế chậm, nên môi trường và hệ sinh thái của nước này còn rất tốt so với hầu hết các quốc gia trên thế giới mà bạn từng thăm viếng.

Cố Đô Bagan Cổ Kính và Tráng Lệ

Đã cất công tới đất nước Myanmar mà không thăm viếng Bagan, kể như chưa đến! Cố đô Bagan nằm ở miền trung của Myanmar. Những di tích còn lại của Bagan có thể sánh với hai quần thể đền tháp nổi tiếng thế giới là đền Angkor Wat của Cambodia và đền Borobodur của Nam Dương.

Từng là thủ đô của Myanmar trong suốt 230 năm, Bagan là luôn hoài niệm đầy tự hào của người dân Myanmar. Cho tới nay, kể từ năm 1300, khi cư dân cuối cùng rời khỏi Bagan, những di tích đền chùa vẫn sừng sững “trơ gan cùng tuế nguyệt”.

Bốn góc của thành cổ Bagan vút lên trời xanh bốn công trình nhân tạo bất hủ mà hiếm nơi nào trên trái đất có thể bắt chước: 1) Chùa Shwezigon cổ kính. 2) Đền Ananda huyền bí. 3) Đền Thatbyinnyu cao vút  và 4) “Kim Tự Tháp” Dhamayangyi uy nghi.

Theo sử sách, thời hoàng kim, trong các năm từ 1044 tới 1287, mỗi ngày Bagan có  thể  dựng thêm 40 đền chùa! Phế tích thành cổ Bagan hiện vẫn còn hơn 2.000 ngôi tháp bằng đất nung rực đỏ trên tổng số 13.000 công trình từng được xây cất. Ngàn ngàn năm dưới bóng mây trôi, hàng ngàn ngôi tháp vẫn phơi mình trong ánh mặt trời bên dòng sông Irrawaddy hùng tráng.ShwezigonTemple Bagan Myanmar

So sánh với đền Angkor ở Cambodia, cùng được xây vào thế kỷ 11, thì chất liệu của Angkor là đá, còn đền đài ở Bagan được làm bằng gạch nung.

Chùa Shwezigon nằm ngay trung tâm Bagan và là nổi tiếng linh thiêng nhất xứ sở! Được xây cất vào thế kỷ 14,  Shwezigon là một trong những ngôi chùa đầu tiên và cũng là hình mẫu cho các kiến trúc chùa chiền sau đó trên đất nước Myanmar.

Làm du khách lóa mắt bởi sắc vàng rực nổi trên nền trời xanh, Shwezigon thực sự là công trình kiến trúc tráng lệ hơn hẳn so với các chùa vàng ở Bangkok, ở Vientiane (Vạn Tượng) hay ở Mandalay. Nhiều du khách thích chọn cách ngắm toàn cảnh Bagan từ độ cao 40 mét của ngôi đền Shwezigon dưới ánh hoàng hôn phủ lên vô vàn thành quách đền đài nhấp nhô nên thường tản bộ lên đây vào buổi chiều.

Trước khi bước vào ngôi chùa chính, bạn sẽ gặp ngôi đền thờ các vị nat (thần linh trong văn hóa truyền thống Myanmar) với nhiều hình dạng nằm ở gian thờ bên trái của Shwezigon. Bốn cạnh chùa là 4 dãy cầu thang dẫn lên tháp chính, với 4 góc là 4 con sư tử oai nghiêm trấn giữ. Đỉnh tháp hình quả chuông úp, gần đỉnh là những vòng tròn treo nhiều chiếc chuông theo từng cơn gió phát ra âm thanh vang vọng. Chùa còn có một ngôi tháp thờ tượng đức Phật đứng bằng vàng với cặp mắt từ bi hướng về chúng sinh.Ananda-Temple-Bagan-Myanmar

Mời Quý bạn tới viếng thăm ngôi đền Ananda. Tuy không lớn nhưng Ananda có kiến trúc đặc sắc, nhất là về cách hội tụ ánh sáng tự nhiên vừa đủ để từ mọi góc nhìn các bức tượng Phật luôn luôn huyền ảo. Bốn bức tượng Phật được xây dựng từ thế kỷ 11, qua hàng ngàn năm, vẻ uy nghiêm vẫn tinh nguyên với dáng áo mỏng xếp nếp sát người và cặp mắt hiền từ khép hờ nhìn xuống như ban phát an lành cho nhân gian.

Còn chùa Manuha lại mang sắc thái khác và toát ra tâm tình của một vị sư tạc tượng Phật như đang tạc tượng chính mình! Bức tượng Phật ngồi, cao hơn 10 mét, ngực căng lên như người nghẹn thở, bức bối. Đó là cảnh nhà sư bị cầm giam tại đây vì đã không tuân lệnh vua giao các bộ kinh Phật quý giá.Manuha-Bagan-Myanmar

Riêng tự việnGolden Palace mang đến cho du khách sự kinh ngạc về kiến trúc. Nhìn từ ngoài, tự viện là một khối nhà đen được làm bằng gỗ tếch – một loại cây phổ biến của rừng già Myanmar. Dọc hành lang, những cánh cửa gỗ dày mang đầy các hình tượng điêu khắc rất đẹp. Giữa chính điện là pho tượng Phật vàng uy nghiêm trên bệ thờ cao bằng đầu người. Trong không gian huyền ảo và thâm nghiêm, bạn sẽ có cảm giác dường như Đức Phật luôn theo từng bước chân nhịp thở của bạn.

Thế đó! Cố đô Bagan nằm trải khắp đồng bằng khô cạn bên dòng sông Ayeyarwady mộng mị. Hàng ngàn đền chùa lớn nhỏ của Bagan chỉ nằm trong diện tích 42 cây số vuông trông như một bàn tay Phật!

Rời cố đô Bagan cảm giác chung cho mọi du khách Việt là vừa quen vừa lạ. Du lịch đất nước Myanmar nói chung và với Bagan nói riêng, thực sự là du lịch tâm linh để chiêm nghiệm một cơ hội sống chậm trong những khoảnh khắc bình an, thanh tịnh.

Hàng ngàn ngôi chùa Bagan đều được phủ một màu vàng rực rỡ bên những cánh rừng nguyên sinh là di sản của 2000 năm lịch sử Myanmar. Vẻ quyến rũ truyền thống và tâm linh này sẽ lưu mãi trong tâm trí du khách, khi họ trở về với thế giới ồn ào và sôi động.

Myanmar – Miến Điện 10/22 by AV Travel | Blog Talk Radio.

 Đỗ Ngọc

Photos:
Bagan, Myanmar, 2007, Corto Maltese
Southern Gate of Shwe Dagon Pagoda, 2007, Sky89
Karaweik Palace on Kandawgyi Lake, Yangon Myanmar, 2005, Ralf Andre Lettau
Gate tower of Ananda Temple, Bagan, Myanmar, 2005, Ralf Andre Lettau
Ananda Temple, Bagan, Myanmar, 2008
Manuha Temple, Bagan, Myanmar, 2006, Gerd Eichmann
Shwezigon Temple, Bagan, Myanmar, 2010, DIMMIS
Bagan, Myanmar, 2008, jmhullot

Blue Mosque Istanbul Turkey

Istanbul, Turkey (I)

Nơi Hội Tụ Đẹp Nhất Của  Nền Văn Minh Âu – Á

Nói đến Thổ Nhĩ Kỳ là người ta nghĩ ngay đến một trong những số ít những quốc gia có nền văn hóa pha trộn Tây phương và Đông phương. Đó cũng là xứ sở của các điều kỳ diệu, trong đó Istanbul là thành phố duy nhất trên thế giới nằm giữa hai châu lục Âu và Á.

Từng vang danh toàn cầu với hơn 2700 năm lịch sử, với nhiều địa danh lịch sử, nơi có các thánh đường Hồi giáo và cung điện nguy nga. Năm 1985 Istanbul được UNESCO công nhận là Di Sản Văn Hóa Thế Giới.

Interior of Blue Mosque

Blue Mosque

AV Travel  xin giới thiệu tới quý vị một địa chỉ du lịch tuyệt đó là thành phố Instabul với Cung điện Topkapi, Thánh đường Blue Mosque, Pháo đài European và  Sông Bosphorus.

Nhìn về lịch sử, Istanbul từng là kinh đô của 3 đế quốc khác nhau là Đế quốc La Mã (từ năm 330 đến năm 395), Đế quốc Byzantine (từ năm 395 đến năm 1453) và Đế quốc Ottoman (từ năm 1453 đến năm 1923).

Kể từ năm 1923, sau khi tuyên bố độc lập, Thổ Nhĩ Kỳ đã rời đô từ Instabul về Ankara, song cố đô lịch sử Istanbul vẫn là trung tâm về văn hoá, kinh tế và tài chánh quan trọng nhất của đất nước.

Là thành phố lớn nhất Thổ Nhĩ Kỳ với dân số 13,5 triệu người, Istanbul cũng là một trong những đại đô thị đông dân nhất thế giới.

Nằm phía tây bắc Thổ Nhĩ Kỳ, qua eo biển Bosphorus, thành phố này đã làm một nhịp cầu nối hai lục địa Âu – Á bằng một trong những tuyến hàng hải sôi động nhất thế giới – đó là cảng tự nhiên nổi tiếng Golden Horn, tạm dịch là (Sừng Vàng). Phần thuộc về Âu châu của Istanbul là các di tích lịch sử và thương mại.

Panoramic View of Istanbul,Turkey

Panoramic View of Istanbul, Turkey

Istanbul được an tọa trên vị trí địa lý với khí hậu cận nhiệt đới ẩm và khí hậu Địa Trung Hải. Vào mùa hè khí hậu gió mát và mùa đông gió lớn, tuyết lạnh.

Tên Istanbul có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp cổ, nghĩa là “trong thành phố” hoặc “tới thành phố”. Tạm cắt nghĩa là thành phố lớn duy nhất của xứ sở.

Mang biết bao vinh nhục của loài người, đây chính là nơi tiếp nối “Con Đường Tơ Lụa” đi tới thành La Mã huyền thoại. Thời đó, Istanbul từng là chốn dừng chân của “sinh tử lộ” này, nên được nổi danh như một ngã tư của văn minh Đông – Tây.

Sắc thái Đông phương của đô thị ngàn năm là liên tiếp các ngôi nhà mái vòm đỏ mang phong cách cổ Hồi giáo. Kề bên và xen lẫn là những kiến trúc Tây phương với các dãy tường cổ kính. Du khách tha hồ thả trí tưởng tượng về các bài học lịch sử mà họ từng nghe, từng đọc. Chỉ nội việc đời sống hòa bình của Hồi giáo và Cơ Đốc giáo đã làm hình thức bên ngoài của đô thành vừa gần gũi vừa xa xăm, vừa hiện đại vừa cổ xưa.  Bao trùm lên tất cả là vẻ huyền bí của thành phố Istanbul mà không một địa danh nào có nổi!

Nhưng nói đến Instabul thì phải kể cho quý vị nghe về bán đảo Sultanahmet và Cung điện Topkapi. Phong cảnh thiên nhiên cùng giá trị lịch sử đã hút hồn hàng triệu cuộc thăm viếng hàng năm tại Cung điện Topkapi!

Topkapi-Palace- View-From-Harem

Topkapi Palace- View from Harem

Bán đảo này nằm ngoài sông Bosphorus và cảng Golden Horn có “trái tim” của mình là cung điện Topkapi trong suốt 400 thế kỷ từng là nơi ở của các vị vua triều đại Đế quốc Ottoman oai hùng. Không kể cung điện của hoàng đế, Topkapi có vài trăm phòng ốc với trang trí hoa lệ. Đó chính là nơi vui chơi của vị Vua thời đó với hàng trăm cung nữ cùng gia nô mang mọi sắc tộc.

Cung điện Topkapi sẽ làm du khách choáng ngợt với các tủ trưng bày ngọc, kim cương, châu báu. Không ai có thể quên trong cuộc đời mình về hình ảnh viên kim cương nặng tới 86 cara (bự gần bằng trái trứng!) Đấy chỉ là một trong các bằng chứng về sự hùng cường và giàu có của Đế Chế Ottoman từng chinh phạt Đông-Tây suốt một thời Trung Đại.

Bên cạnh những địa danh đã kể trên, AV Travel không thể không kể cho các bạn nghe về một trong những nhà thờ Hồi giáo nổi tiếng nhất thế giới, đó là Thánh Đường Blue Mosque từng là nhà thờ Chính Thống Giáo mà người Thổ Nhĩ Kỳ xưa chiếm giữ.

Interior of Blue Mosque, Istanbul

Blue Mosque, Istanbul

Được xây cất từ năm 1610, Blue Mosque là thánh đường Hồi giáo lớn nhất Thổ Nhĩ Kỳ với chiều dài 72 mét, bề rộng 64 mét và có thể chứa khoảng 10 ngàn người. Với 6 ngọn tháp nhỏ với một mái vòm chính, 8 mái vòm phụ của Blue Mosque như dấu ấn độc đáo về sự linh thiêng trên đất trời Thổ Nhĩ Kỳ.

Có tên gọi Blue Mosque vì thánh đường được làm bằng gạch men màu xanh để ốp tường. Vào năm 2006, nơi đây từng có một vị khách đặc biệt tới viếng thăm. Ðó chính là Ðức Giáo Hoàng Benedict XVI – người đã viếng thăm thánh đường Hồi giáo này và Ngài cũng dâng lời cầu nguyện trong vòng 2 phút.

Trong khuôn viên Thánh đường, Cột trụ Hippodrome nằm giữa một công viên, ngay trước cổng ngoài Thánh đường Blue Mosque. Đó từng là một trong các chiến lợi phẩm đem về từ Ai Cập. Trụ làm bằng đá, khắc các chữ viết và hình vẽ của người Ai Cập cổ. Ngày xưa là trường đua ngựa mang tên Hippodrome. Trường đua có từ năm 203 với chiều dài 480 mét, rộng 117 mét và khán đài lúc đó đã chứa tới 100 ngàn người.

Một minh chứng hiển hách thời trung đại về khả năng chiến trận của người Thổ Nhĩ Kỳ là Pháo đài European. Con sông Bosphorus là biên giới tự nhiên dài 32 ki lô mét ngăn cách phần Á châu và Âu châu của Thổ Nhĩ Kỳ. Và sát bờ Âu là Pháo đài European. Đây từng là một pháo đài lớn, làm bằng đá và chỉ được xây cất trong vòng 4 tháng của năm 1453, nhằm chấm dứt đường tiếp viện của quân xâm lược toan đánh chiếm Istanbul. Hàng trăm năm qua bao máu lửa nhưng pháo đài vẫn như còn nguyên vẹn.

Du ngoạn trên sông Bosphorus sẽ như “giấy chứng chỉ Istanbul” cho du khách mà AV Travel đang cùng đưa quý vị thăm viếng.

Từ cầu tàu Galata, con thuyền khởi hành để du khách tận hưởng cảnh quan của đất trời một trong những vị trí địa lý đẹp nhất mà Tạo hóa ban tặng cho trái đất!

Panoramic view of the Bosphorus

Panoramic view of the Bosphorus strait, where Asia (in the background) and Europe (in the foreground) meet, with the Fatih Sultan Mehmet Bridge at right

Vào buổi sáng sớm, đó là không khí trong lành mát rượi với cảnh náo nhiệt của những chợ nổi trên sông. Còn khi chiều tà, đó lại là hoàng hôn rực ánh dương chìm dần xuống biển khơi xanh thẳm. Cao thấp hiện ra trên hai bờ sông Bosphorus với nhiều công trình kiến trúc hoàn hảo như lâu đài cổ Rumeli Hisar, cung điện Dolmabahce, tòa biệt thự Bebek…

Bophorus-Istanbul

Originally outside the city, yalı residences along the Bosphorus

Sau các chuyến đi theo lịch trình, du khách không thể không dành một buổi chiều tối tản bộ vùng ven ngoại ô Istanbul. Nơi đó có những nhà hàng với nhiều món ăn hải sản hợp khẩu vị, có các club khiêu vũ, uống rượu với các vũ nữ tươi đẹp và mềm mại trong màn múa bụng cùng các điệu nhạc lôi cuốn không giống bất kỳ nơi nào khác.

Tới đây quý vị nhất định phải thưởng thức một món đặc sản “made in Turkey” nhưng phải ăn tại Istanbul trong khi tản bộ cùng phố xá và con người bản xứ: đó là Kebab mà chắc nhiều Quý khách AV Travel từng thưởng thức ở Hoa Kỳ hay nhiều nơi trên thế giới.

Có thể nói Kebab Thổ Nhĩ Kỳ có thể nói quen thuộc nhất với người dân Thổ Nhĩ Kỳ. Ở đâu có người Thổ Nhĩ Kỳ là ở đó có Kebab. Nếu Quý vị chưa từng biết Kebab thì đây là dịp may để làm quen với một ổ bánh mì kẹp thịt nướng mới ra lò, cùng rau và nước xốt. Món ăn này cũng có thể xem là một “địa chỉ” gặp gỡ của ẩm thực Tây phương và Đông phương!

Câu nói “Người nào cảnh ấy” có lẽ đúng nhất ở đây! Con người Istanbul là hiện thân cho các điểm nổi bật từ 2 châu lục Á và Âu. Nam cũng như nữ, người Istanbul được pha trộng qua bao đời của với 2 dòng máu: dáng vẻ to cao, cường tráng của đàn ông Tây phương mà vẫn điệu đà, nhu mềm của phụ nữ Đông phương.

Người dân Istanbul luôn vui vẻ và tận tình giúp đỡ du khách. Về tính thân thiện của người Thổ Nhĩ Kỳ, có cách lý giải là do ảnh hưởng cuộc sống đa thê của đạo Islam. Cũng có thể như vậy; nhưng điều rõ ràng là một khi đã làm người dân của “ngã tư địa cầu” nơi gặp gỡ giữa hai nền văn hóa Đông – Tây thì khó mà không hiếu khách! Các huyền thoại của một thời lịch sử đầy danh tiếng, các danh thắng như những viên kim cương làm đẹp thiên nhiên Istanbul… sẽ lưu giữ mãi trong tâm trí du khách.

Không phải ngẫu nhiên mà một nhà văn đã từng ví Istanbul vừa như bản nhạc giao hưởng của các nước Tây phương, lại vừa như áng thơ trữ tình của Đông phương. Hẹn quý vị thính giả trong buổi phát thanh tới.

Diễm Thi

Photos:  Featured: The Sultan Ahmed Mosque in Istanbul( The Blue Mosque ), Turkey, 2001, Dersaadet. 1.  Interior view, featuring the prayer area and the main dome. The blue mosque, Christian Perez, 2013  2. Interior Panorama of the Sultan Ahmed Mosque,Istanbul, Turkey, Babak Gholizadeh, 2007  3.Bophorus, Istanbul. Moonik, 2012  4. The Topkapı Palace,  photographed from across the Bosphorus at the Harem ferry terminal in Turkey, Bjørn Christian Tørrissen, 2009 5. Panoramic view of Istanbul from the confluence of the Bosphorus and the Sea of Marmara, Ben Morlok, 2012. 6.”İstanbul” by Hiper10 –  Licensed under Creative Commons Attribution-Share Alike 3.0 via Wikimedia Commons

Nhac Si Dang The Phong

Đặng Thế Phong – Tài Hoa Mệnh Yểu

Nhạc sĩ Đặng Thế Phong sinh năm 1918 tại thành phố Nam Định và mất năm 1942 tại Hà Nội vì bệnh lao, là một nhạc sĩ tiền chiến tiêu biểu cho nền Tân nhạc Việt Nam.

Cha mất sớm, gia cảnh túng thiếu, Đặng Thế Phong phải bỏ học khi đang theo học năm thứ hai bậc Thành chung. Ông lên Hà Nội học với tư cách dự thính tại Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương; tại đây, Đặng Thế Phong đã để lại một giai thoạt đẹp và buồn. Trong một kỳ thi, ông vẽ một bức tranh cây cụt, không có một cành nào. Lúc nạp bài, Giáo sư Tardieu, thầy dạy ông khen đẹp, nhưng đoán rằng có lẽ Đặng Thế Phong không thọ!

Thời gian sau, ông lang thang vào Sài Gòn, sau đó sang Cambodia kiếm sống – có lúc ông mở một lớp dạy nhạc. Sinh thời, Đặng Thế Phong sống và chết trong nghèo đói.

Là một trong những nhạc sĩ đầu tiên của Tân nhạc Việt Nam, trong 24 năm của đời mình, Đặng Thế Phong chỉ để lại vỏn vẹn 4-5 tác phẩm, trong đó có 3 nhạc phẩm nổi tiếng và quen biết về mùa thu là “Đêm thu”, “Con thuyền không bến” và “Giọt mưa thu” (hay “Vạn cổ sầu”; lời bài này được coi là của Bùi Công Kỳ).

Trong chương trình “Vòng Quanh Thế Giới” tuần này, nhạc sĩ Tô Vũ, cùng thời với Đặng Thế Phong, sẽ cho quý thính giả và độc giả biết về người bạn của mình.

ConThuyenKhongBen-Dang-The-Phong

Nhạc sĩ Tô Vũ nói về Đặng Thế Phong 

Nhạc sĩ Tô Vũ: Đặng Thế Phong có thể nói là một người rất đa tài và rất yêu thích âm nhạc. Anh ấy thì là người ở Nam Định, khi lên Hà Nội học, anh ấy lại học họa như kiểu Văn Cao ấy, tức là anh ấy học ở trường Mỹ thuật Đông Dương chứ không phải là nhạc sĩ bẩm sinh, rất mê nhạc và chơi nhạc guitare rất hay. Thế là, khi có phong trào vận động và sáng tác và Đặng Thế Phong một trong những người đầu tiên sáng tác. Bởi vì ông ấy có một hoàn cảnh như thế này. Lúc đó tôi ở nhờ nhà ông Phạm Cao Củng là một nhà viết truyện trinh thám đầu tiên của Việt Nam, cũng nổi tiếng, lấy hiệu là ông Văn Tuyền – Phạm Cao Củng. Tôi ở nhờ nhà ông Văn Tuyền – Phạm Cao Củng. Ông Phạm Cao Củng là chủ bút một tờ báo “Học sinh”, vẽ minh họa cho tờ báo ấy chính là nhờ ông Đặng Thế Phong. Đặng Thế Phong đến ở nhờ ông Phạm Cao Củng để vẽ báo cho ông Phạm Cao Củng, còn tôi đến ở nhờ ông Phạm Cao Củng để đi học tú tài. Thế là hai anh cùng là nhạc với nhau, Ông Đặng Thế Phong làm được bài gì là hát cho tôi nghe ngay. Bản nhạc đầu tiên mà Đặng Thế Phong được nổi lên là do Phạm Cao Củng in cho trên tờ báo “Học sinh”. Bài đầu tiên là bài “Đêm Thu”.

Việt Hùng: Nhạc sĩ là người đã có thời trai trẻ và thời còn đi học gắn liền một khoảng thời gian với những kỷ niệm với nhạc sĩ Đặng Thế Phong. Nhạc sĩ có thể chia sẻ với quý thính giả về một số ca khúc nhạc sĩ Đặng Thế Phong viết.

Nhạc sĩ Tô Vũ: Đặng Thế Phong anh ấy có mặc cảm riêng về con người. Chính vì vậy nên anh ấy viết những bài buồn. Ngoại hình của anh ấy có mấy cái răng khểnh, hai nữa là bàn tay của anh ấy toàn nổi những mụn hột cơm. Cho nên ông ấy mặc cảm về ngoại hình của mình lắm. Lúc đó, phong trào Lê Thương sáng tác, Đặng Thế Phong bảo: “Làm thế này chúng ta làm cũng được”. Đặng Thế Phong cũng làm luôn và bài đầu tiên là “Đêm Thu”. Ông Củng bảo thế này: “Thế bây giờ thì thế này: tôi phải in cho các cậu thì người ta mới biết chứ”. Ông ấy in bài “Đêm Thu” trên báo “Học sinh” cho ông Đặng Thế Phong. Thế rồi ông Đặng Thế Phong đi hát ở một số nơi từ thiện, người ta rất thích Và sau đó đến bài “Con thuyền không bến” thì nổi lên như cồn.

song_con_thuyen_khong_ben

Lúc ấy anh ấy bị bệnh và anh ấy trở về Nam Định. Chính trên giường bệnh anh ấy viết bài “Giọt mưa thu” cũng là một bài hết sức rất nổi tiếng. Người giữ bài nhạc này để in hộ là nhạc sĩ Bùi Công Kỳ và chính Bùi công Kỳ là người đưa bài “Giọt mưa thu” ra cho công chúng. Chứ khi viết bài này thì Đặng Thế Phong đã gần chết rồi.

Việt Hùng: Như vậy bản cuối cùng của Nhạc sĩ Đặng Thế Phong là bài “Giọt mưa thu” cũng như lời trăn trối để lại.

Nhạc sĩ Tô Vũ: Lúc đầu ông ấy đề là “Vạn cổ sầu” nhưng về sau anh em nào đó, tôi tin là Bùi Công Kỳ thôi, bảo là để “Vạn cổ sầu” nghe nó sầu quá nên đổi lại là “Giọt mưa thu”.

Việt Hùng: Nhạc sĩ Đặng Thế Phong lấy từ nguồn cảm hứng hay là từ ca từ nào để đặt cho “Ngoài hiên giọt mưa thu thánh thót rơi”?

Nhạc sĩ Tô Vũ: Ông ấy nằm bệnh liệt giường hàng tháng, không dậy được và người hay đến thăm lúc ốm là Bùi Công Kỳ. Cứ nghe giọt mưa tí ta tí tách và nhớ cuộc đời, thấy cuộc đời nó cũng tàn đi, nó chảy đi như giọt mưa mùa thu, tức là tâm sự cuộc đời của Đặng Thế Phong đấy.

Việt Hùng: Thế rồi để trở về bản “Con thuyền không bến”, mọi người biết đến rất nhiều “Con thuyền không bến” và “Giọt mưa thu”. Xuất xứ “Con thuyền không bến” nhạc sĩ biết từ đâu?

Con Thuyen Khong Ben - Dang The PhongNhạc sĩ Tô Vũ: “Con thuyền không bến”… đi lên chơi với anh Củng, chúng tôi hay đi chơi lắm, ngồi trên con thuyền đi trên sông Thương, con thuyền không bến… con sông ấy chính là con sông Thương mà anh Đặng Thế Phong đã từng đi và tôi cũng được biết anh đã đi mà anh ấy không rủ tôi bởi vì anh ấy đi với bạn anh ấy. Còn tôi đi với người khác. Nhưng khi về hát thì tôi biết ngay. Là một trong những người đầu tiên viết theo thể (xanh-cốp), hồi đó là mới lắm đó… (tinh tinh tinh tinh tình tình tinh – tinh tinh thinh tinh tình tinh tinh – hát) Cái ấy là cái sáng tạo mới – rất nhiều người sợ, ông Doãn Mẫn rất sợ cái đó và bảo viết thế hơi quá mạnh đấy – Đặng Thế Phong đã làm đấy, bởi vì ông ấy bảo thế nó mới đúng con thuyền lờ lững. “Đêm nay thu sang cùng heo may – Đêm nay bơ vơ thuyền trôi đây – Thuyền ai lờ lững trôi xuôi dòng – Như bước chân ai chùng tơ lòng” (hát). Bài “Con thuyền không bến” tôi nghe Đặng Thế Phong hát thấm lắm, buồn lắm!

Thế anh Củng bảo “việc gì sao cậu buồn thế”, hóa ra lần ấy anh ấy cảm thấy anh không còn tồn tại lâu, thành ra anh ấy nhìn cái gì cũng thấy buồn, đi chơi trên sông cũng cảm thấy rất buồn chứ ông ấy chả có thất tình gì đâu. Và viết bài “Con thuyền không bến” cảm thấy mình rất bơ vơ lạc lõng ở thế gian này.

Việt Hùng: Phải chăng có thể nói nhạc sĩ Đặng Thế Phong là một trong những nhạc sĩ đặt tiền đề cho khám phá mới trong những melody và những giai điệu của nền Tân nhạc như vậy? Nhạc sĩ suy nghĩ như thế nào về điều này?

Nhạc sĩ Tô Vũ: Đúng, đúng, đúng! Chính phong cách của Đặng Thế Phong rất nhiều người về sau này hướng vào cái đường ấy. Một trong những người viết và tiết tấu nó mạnh hơn chính là Ngọc Bích. Chính từ Đặng Thế Phong mà Ngọc Bích đã tiến tới cái loại (swing) Là vì Đặng Thế Phong là người dám chơi nghịch phách đầu tiên trong các ca khúc trữ tình.

Việt Hùng: Thế là từ khi Đặng Thế Phong sáng tác các ca khúc “Con thuyền không bến”, “Giọt nưa thu”, phần lớn hầu hết nhạc sĩ Đặng Thế Phong tự hát để phổ biến đến thính giả…

Nhạc sĩ Tô Vũ: Đúng. Đúng như thế. Nếu Đặng Thế Phong không hát mà chỉ in không thôi thì chắc chắc những bản nhạc đó sẽ chết chìm hết. Vì hồi đó người có thể sử dụng đuợc ký âm và hát lên được ít lắm.

Việt Hùng: Là một người có nhiều kỷ niệm với nhiều nhạc sĩ thời tân nhạc của Việt Nam, nhất là nhạc sĩ Đặng Thế Phong, nhạc sĩ có kỷ niệm gì chia sẻ với quý thính giả?

Nhạc sĩ Tô Vũ: Tôi rất quý Đặng Thế Phong. Tôi quý là vì ông ấy đa tài quá. Ông ấy vẽ rất giỏi. Ông này vừa là nhạc sĩ, họa sĩ, và ca sĩ, nhiều thứ lắm. Tôi nghĩ cũng như Văn Cao, Đặng Thế Phong không bỏ nhiều công phu học nhạc như tôi đâu, không chịu khó như tôi đâu. Thế nhưng các anh ấy như người ta nói là “học một biết mười”, hay nghe lỏm một bài hát thôi thì lập tức nghĩ ra cách gì để biến đổi thành của mình, mình sáng tác ra. Cho nên tôi bảo là loại này như các anh ấy không gọi là nhân tài mà gọi là thiên tài. Đặng Thế Phong và Văn Cao là hai điển hình mà tôi cho là thiên tài xây dựng nền Tân nhạc của chúng ta.

Việt Hùng: Trước khi ra đi, nhạc sĩ Đặng Thế Phong có để lại bản “Giọt mưa thu”, ngoài ra nhạc sĩ có nghe nhạc sĩ Đặng Thế Phong có nhắn nhủ gì để lại cho đời, cho người…giot-mua-thu

Nhạc sĩ Tô Vũ: Hình như có chuyện này bây giờ trở thành giai thoại. Có mấy bà thời trước ấy là thiếu nữ rất xinh đẹp đã về đây và nói với tôi là mình chính là người tạo cảm hứng để Đặng Thế Phong viết bản “Giọt mưa thu”. Tôi không tin. Nhưng có một bà bên Thụy Sĩ về đây, em ruột bà ấy biết tôi và tôi cũng biết gia đình ấy. Bà ấy bảo Đặng Thế Phong là vì không lấy được bà ấy nên mới viết “Giọt mưa thu” và chết thành như vậy. Hoàn toàn không đúng! Nhưng tôi biết bà này rất yêu Đặng Thế Phong, bà ấy về để lấy ảnh và thờ ông ấy bên Thụy Sĩ bây giờ. Tôi tin là không phải, không có đâu! Tôi tin là ông Đặng Thế Phong có người yêu. Cái đó là đúng! Nhưng tôi tin là rất trắc trở – cái này ông Củng nói với tôi. Gia đình cô này không thể chịu được ông Đặng Thế Phong nghèo rớt mồng tơi lại thích làm nhạc, với vẽ thì sống làm sao được! Về với ông này chỉ có ăn cơm với uống nước lã. Tôi thấy ông Củng nói về ông Phong như thế đấy. Tôi tin không phải ông đào hoa nhiều cô mê như lời cô em gái thường nói bây giờ. Tôi tin rằng ông ấy thất tình, rất yêu một người nào đó nhưng không với được cho nên những bài hát ấy rất buồn, cả “Đêm thu” cũng rất buồn, “Con thuyền không bến” lại càng buồn bơ vơ đến “Vạn cổ sầu” tức là “Giọt mưa thu” lại càng buồn hơn nữa. Anh ấy là một con người thất tình giống y như (nhạc sĩ Bizet – ở Pháp), hay là Chopin chứ không phải là người tài hoa như Đoàn Chuẩn đâu.

Việt Hùng: Thường bây giờ mọi người nói nhìều đến “Giọt mưa thu” và “Con thuyền không bến”. Tuy nhiên nhờ nhạc sĩ có thể ngân nga một ca từ hoặc melody nhỏ trong bản “Đêm thu” cho thính giả nhớ lại, hồi tưởng lại “Đêm thu”.

Nhạc sĩ Tô Vũ: (Hát) Câu “Hoa lá cành ánh trăng xuân dịu dàng” trở thành câu về sau quá nhiều người thích, đến nỗi ông Trần Văn Khê còn nói “kiểu hoa lá cành ấy mà”, tức là kiểu phù phiếm bên ngoài, không có gì. Nó chính là câu pháp của Đặng Thế Phong. Tôi thấy từ ông Lê Thương, bao nhiêu người cứ nhắc đến bảo “ừ cái cậu ấy hoa lá cành thôi, không sâu sắc, chỉ phơn phớt như bướm thôi”. Lấy từ lời ca ấy của Đặng Thế Phong. Tôi mới bảo: “Hoa lá cành” lấy từ “Đêm thu” à?” “Đúng, nó nói rất đúng Đặng Thế Phong, rất đúng! Thằng cha ấy chỉ hoa lá cành thôi”…….

Việt Hùng: Vâng, “Con thuyền không bến” qua tiếng hát Anh Ngọc, “Giọt mưa thu” qua tiếng hát Thanh Thúy, và “Đêm thu” qua tiếng hát Lê Dung cùng ký ức của nhạc sĩ Tô Vũ từ Sài Gòn nói về nhạc sĩ Đặng Thế Phong như một lời chia tay với thính giả chương trình “Một giờ vòng quanh thế giới”.