Ming_Tombs_watercolor

Minh Triều Thập Tam Lăng (II)

Du khách đến thăm Minh Triều Thập Tam Lăng, thế nào cũng được chiêm ngưỡng Trường Lăng, nơi hoàng đế Chu Đệ yên nghỉ. Đây là khu lăng mộ đầu tiên ở về phía Bắc, mô phỏng theo kết cấu của Tử Cấm Thành với những lầu điện xe kẽ nhau, tường đỏ ngói vàng, biểu hiện địa vị tôn quý bậc nhất của hoàng đế Trung Hoa.

LingEn-Gate - Ming Tombs

Ling En Gate – Ming Tombs

Kiến trúc chủ đạo của Trường Lăng là Lăng Ân Điện (điện Lăng Ân), nơi tổ chức mọi hoạt động cúng tế. Ngôi điện đồ sộ này được dựng bởi 60 cột gỗ lim cao 12 mét, có đường kính 1 mét được đưa từ vùng rừng sâu của Vân Nam và Tứ Xuyên lên Bắc Kinh.

Theo các sử liệu, sau khi đẵn gỗ xong, phải đợi đến mùa lũ mới vẫn chuyển được gỗ khỏi rừng bằng cách thả trôi theo dòng nước, rồi kết thành bè theo sông đưa tới kinh đô. Còn trên đường bộ, phải đợi tới mùa đông, cách một quãng phải đào một giếng, lấy nước đổ lên mặt đất cho đóng băng, rồi dùng sức người kéo lê gỗ về Bắc Kinh.

Golden_Crown_Replica_of_King_Wanli

Golden Crown.Replica of King Wanli

Như thế, phải mất từ 3 đến 4 năm mới chuyển được các cột gỗ khổng lồ như vậy, số dân công lên tới 20 ngàn – có thể hình dung ra việc xây khu lăng mộ quy mô này tốn kém và công phu đến mức nào!

Sau Lăng Ân Điện một quãng là một tòa lầu hình vuông nhỏ hơn, cao sừng sững, gọi là Minh Lâu (lầu Sáng), đây là kiến trúc tiêu biểu của lăng mộ đế vương triều Minh. Bên trong Minh Lâu đặt bia mộ của mộ chủ; từ ngôi lầu này vươn ra dãy tường vây quanh một ụ đất hình tròn (gọi là Bảo Đỉnh), vươn cao như một khu đồi, ngầm dướt mặt đất vài chục mét là hầm mộ đặt quan tài của hoàng đế Chu Đệ và hoàng hậu.

Thông qua Trường Lăng, du khách ít nhiều có thể hình dung được cấu trúc “phần nổi” của 13 lăng mộ triều Minh, nhưng trước kia, không ai biết cấu trúc ngầm dưới đất như thế nào vì lối vào các hầm mộ đều được giữ kín.

Thập niên 50 thế kỷ trước, để tránh ảnh hưởng có thể xảy ra khi khai quật Trường Lăng, các nhà nghiên cứu Trung Quốc đã tập trung vào một khu lăng mộ khác là Định Lăng, lớn thứ ba trong quần thể Thập Tam Lăng, là nơi mai táng hoàng đế Minh Thần Tông Chu Dực Quân (hiệu Vạn Lịch) và hai vị hoàng hậu. Điểm đặc biệt là kiến trúc “phần nổi” của Định Lăng rất giống của Trường Lăng, nên có thể giả thiết rằng “phần chìm” dưới lòng đất của nó cũng có nhiều điểm tương đồng.

Thoạt đầu, không sao tìm ra được lối vào của Định Lăng. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu, trong quá trình tìm tòi, đã vô tình phát hiện ra một bia đá nhỏ, bên trên khắc vị trí cửa vào của Định Lăng.

Tại sao cửa vào hầm mộ là tuyệt mật, mà lại có bia chỉ hướng ở đây? Một giả thuyết được đưa ra: Định Lăng được xây từ khi hoàng đế Vạn Lịch mới 22 tuổi và trong vòng 6 năm thì hoàn thành. Tuy nhiên, hoàng đế Vạn Lịch mất năm 58 tuổi, nghĩa là hầm mộ đã bị để trống 30 năm ròng! Như vậy, cần có một bia đánh dấu lối vào và sau khi mai táng hoàng đế, may thay, chắc người ta đã quên hủy tấm đá đó.

Từ đó, bí mật hầm mộ Định Lăng đã được giải đáp: khu lăng nằm sâu dưới đất 27 mét, gồm 5 ngôi điện lớn toàn bộ đều xây bằng đá. Cánh cửa các ngôi điện cũng bằng đá, cao 3,3 mét, rộng 1,8 mét, được thiết kế khoa học, tuy nặng gần 4 tấn nhưng có thể mở rất nhẹ dàng.

Inside Dingling Tomb

Inside Dingling Tomb

Gian điện giữa (chánh điện) có ba ngôi bảo tọa (ngai vàng) bằng đá cảm thạch (hán bạch ngọc), còn ngôi hậu điện đặt áo quan hoàng đế Vạn Lịch và hai vị hoàng hậu. Ngoài ra, Định Lăng còn chứa hơn 3.000 văn vật như đồ thêu, trang phục và đồ trang sức, cùng nhiều đồ vàng, ngọc và đồ sứ rất quý hiếm, được gọi chung là “minh khí” (vật tùy táng để người dưới cõi âm có thể sử dụng).

Những báu vật này đã được Mao Trạch Đông đích thân ra chỉ thị đem trưng bày tại các bảo tàng viện trong nước và trên thế giới; một số bảo vật được giới thiệu ở khu lăng chính, tức Trường Lăng của hoàng đế Chu Đệ.

Vốn tin vào kiếp sau (tức là có một đời sống khác sau khi chết), các hoàng đế triều Minh đã chọn một khu đất long mạch, núi non cây cỏ tươi mát, để xây những lăng mộ vĩ đại với mong muốn nhà Minh sẽ tồn tại muôn đời và cả những kẻ đã băng hà cũng “sống” phú quý và giàu sang như trên dương thế. Thập Tam Lăng còn được gìn giữ gần như nguyên vẹn đến ngày nay là một minh chứng của niềm hy vọng ấy.

Tuy nhiên, nếu khu lăng mộ này – như một di sản của nền văn hóa và kiến trúc Trung Quốc – có thể còn mãi với thời gian, thì Minh triều đã chỉ tồn tại chưa đầy 3 thế kỷ. Trớ trêu thay, thủ lĩnh nông dân Lý Tự Thành, người lật đổ nhà Minh và trên đường kéo quân về Bắc Kinh đã đốt phá Thập Tam Lăng, thì đến nay lại được dựng tượng ngay trên con đường dẫn đến khu lăng tẩm.

Phải chăng, người ta muốn nói rằng một triều đại chỉ có thể đứng vững chừng nào nó thuận theo ý dân; bằng không, ngay cả Bức Tường Vạn Dặm hay lăng tẩm xa xỉ cũng chẳng giúp được gì?

 Hoàng Linh

Photos:

Featured Image: panoramic view of the 13 tombs of the Ming emperors, brush-and-ink and watercolor,1865-1908. 1. Photo was taken at Ling En Temple of Chang Ling. It shows a replica of the golden crown of Wanli Emperor of Ming Dynasty of China. The original piece was excavated from Ding Ling at 1960s and are on display at Ding Ling museum., 2009, Mlogic 2. A picture inside the Dingling tomb – a part of the Ming Dynasty Tombs, 2004, Louis le Grand.  3. Statue insde Ming Dynasty Tombs, 2005, ofol. 4. The front view of Ling En Gate, Chang Ling, Ming Tombs, 2009, Yan Li.

Minh Triều Thập Tam Lăng (I)

Du khách tới Bắc Kinh, ngoài những thắng thắng cảnh trong thành phố như Tử Cấm Thành, Di Hòa Viên, Thiên Đàn, thế nào cũng sẽ có dịp viếng thăm vùng phụ cận với Vạn Lý Trường Thành và đặc biệt là Thập Tam Lăng, quần thể lăng mộ 13 vua đời Minh, cách thủ đô chừng 50 km về phía Tây Bắc.

Tọa lạc trong vùng thung lũng núi Vạn Thọ, Thập Tam Lăng đã được tổ chức UNESCO của Liên Hiệp Quốc công nhận là Di Sản Văn Hóa Thế Giới vào năm 2003.

Ming Dynasty Tombs

Ming Dynasty Tombs

Triều đại nhà Minh, khởi đầu từ năm 1368 sau khi Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương (hiệu Hồng Vũ) đánh bại nhà Nguyên, truyền 16 đời đến năm 1644, tổng cộng 277 năm. Trước đó 2 năm, triều đình chinh chiến liên miên với quân Mãn Thanh, bày ra sưu cao thuế nặng khiến muôn dân cùng quẫn, đói khát, trong khi giới quý tộc vẫn sống rất sung túc.

Thủ lĩnh khởi nghĩa Lý Tự Thành được đông đảo nông dân ủng hộ đã đưa quân về tấn công Bắc Kinh khiến hoàng đế cuối cùng của nhà Minh là Minh Tư Tôn Chu Do Kiểm (hiệu Sùng Trinh) phải thắt cổ tự tử trong Tử Cấm Thành.

Thập Tam Lăng gắn liền với tên tuổi của Minh Thành Tổ Chu Đệ, vị vua thứ ba của nhà Minh, con thứ tư của Chu Nguyên Chương. Sau 30 năm trị vì, Chu Nguyên Chương qua đời vào năm 1398, lập con trưởng làm thái tử nhưng vị thái tử này mất sớm nên ngôi vua về cháu đích tôn là Chu Doãn Văn (Minh Huệ Đế).

Hoàng Đế Hồng Vũ

Emperor Hongwu

Tuy nhiên, nội chiến xảy ra liên miên vì các con của  Chu Nguyên Chương đều tỏ ra không phục Huệ Đế và dấy binh dành ngôi. Được sự trợ giúp của bá quan văn võ trong triều, Huệ Đế đánh bại 5 ông chú của mình; ngoại trừ Yên Vương Chu Đệ, khi đó 38 tuổi, là người được sử xưa mô tả là có diện mạo oai phong, đa mưu, túc trí, quyết đoán, biết trọng dụng người tài và được thủ hạ kính trọng. Chu Đế từng lập nhiều chiến công hiển hách cùng vua cha trong thời kỳ chinh chiến với quân Mông Cổ, năm 20 tuổi, ông được trấn giữ Yên Kinh, tức Bắc Kinh bây giờ. Sau khi vua cha băng hà, Chu Đệ giả điên và rút vào hậu trường, ngoài bộ tỏ ra không liên can đến những cuộc tranh giành quyền bính, nhưng kỳ thực vẫn ngấm ngầm tuyển binh mã.

Sau khi Huệ Đế lên ngôi được 4 năm, Chu Đệ biết thời cơ đã đến, binh lực đã hùng mạnh nên đem quân về kinh đô, lúc đó đặt tại Nam Kinh (nay thuộc Giang Tô) cướp ngôi từ cháu mình Huệ Đế, khiến Huệ Đế phải thiêu hủy hoàng cung và trốn chạy.

Vào mùa hạ năm 1402, Chu Đệ lên ngôi lấy hiệu là Vĩnh Lạc, Minh Thành Tổ Chu Đệ quyết định rời đô từ Nam Kinh về Bắc Kinh, vừa để đề phòng các thế lực thân Huệ Đế (mới mất ngôi, khi đó không rõ tung tích ra sao), phần tránh quân Mông Cổ ở phía Nam.

Hoàng Đế Chu Đệ

Emperor Yongle

Ngoài ra, theo sử cũ, còn có 23 hoàng hậu, 1 quý phi và 10 hoàng phi được an táng tại đó, có nhiều người bị tuẫn táng (chôn sống) theo phong tục của các hoàng đế đầu thời nhà Minh.

Ròng rã trong 235 năm, khu lăng tẩm này được dựng trên một diện tích hơn 40 km vuông, với tường thành bao bọc (tổng độ dài 40 cây số) với chiến lược dễ phòng thủ, khó tấn công.

Dừng chân trước chiếc cổng đá vào lăng xây năm 1540 với vóc dáng bề thế: cao 14 mét và rộng 19 mét, được gìn giữ khá nguyên vẹn cho đến nay, du khách bất giác có suy nghĩ: đây thực sự là một Tử Cấm Thành thứ hai, uy nghi không kém gì Cung Cấm tại Bắc Kinh.

Lăng của mỗi hoàng đế nằm trên một gò núi, bốn bề là cây cối tốt tươi, rất “chuẩn” và hòa hợp với thiên nhiên về mặt Phong Thủy; các lăng mộ nằm theo hướng Bắc – Nam, nối với nhau bằng một con đường mang tên Thần Lộ dài chừng một dặm (1,7 cây số), nằm giữa hai rặng núi Hổ Sơn và Long Sơn.

Silk Burning Stove, Ming Dynasty Tombs

Silk Burning Stove, Ming Dynasty Tombs

Hoàng Linh

Photos: 1. Official court painting of the Hongwu Emperor (reigned 1368-1398 AD), Ming Dynasty, China. Hardouin.  2. Emperor Yongle of Ming Dynasty China, 14th-17th Century, Palace Painter. 3. The Ming Dynasty Tombs, Beijing, 2007, Andrew Bell. 5. Silk Burning Stove, The Ming Dynasty Tombs, Beijing, 2009, Mlogic. Featured Image: Chinese Xin Shape Jewelry from Ming Dynasty, 2010, Mlogic.

sailing on yangtze river

Dương Tử Giang

Khói trầm bên giấc mơ tiên
Bâng khuâng… trăng rải qua miền quạnh hiu
Tô Châu lớp lớp phù kiều
Trăng đêm Dương Tử, mây chiều Giang Nam.

Ấy là những lời của cố thi sĩ Hồ Dzếnh trong thi phẩm “Khúc Linh Cầu” khi nhớ về quê nội của ông, mảnh đất Trung Hoa. Trong số những địa danh mà ông nêu ra trong nỗi nhung nhớ, có Dương Tử Giang, con sông “mẹ” của tất cả sông hồ trên xứ sở Trung Quốc, đồng thời, cũng là con sông dài nhất ở Châu Á. Đến mức, người ta đã dùng một tên chung là Trường Giang (con sông dài) để chỉ về nó.

Dương Tử Giang dài chừng 6.300 cây số, là con sông dài thứ tư trên thế giới sau sông Nile (châu Phi), sông Amazon (Nam Mỹ) và sông Mississippi, Missouri ở Bắc Mỹ, có cội nguồn ở tỉnh Thanh Hải phía Tây Trung Quốc và chảy về phía Đông đổ ra Đông Hải.Dusk on the Yangtze River

Thực ra, thoạt đầu, Dương Tử là tên gọi của người dân sống tại hạ lưu sông này để chỉ khúc sông chảy qua đó; tuy nhiên, thông qua những nhà nhà truyền giáo châu Âu, tên “Dương Tử” đã được dùng trong tiếng Anh để chỉ toàn bộ con sông (Yangtze).

Là con sông lớn nhất Trung Quốc xét cả về chiều dài, lượng nước chảy, diện tích, lưu vực và ảnh hưởng kinh tế, Dương Tử Giang là đầu mối giao thông quan trọng của đất nước này, nối liền Trung Hoa lục địa với bờ biển.  Các chuyến tàu thủy du ngoạn trên sông trong vài ngày – hay thậm chí vài tuần – đưa du khách qua các khu vực có phong cảnh đẹp, càng trở nên phổ thông hơn, khiến du lịch Trung Quốc thêm thu hút và ngày một phát triển. Tuy nhiên, trong lịch sử, con sông hùng vĩ Dương Tử Giang cũng gây nên nhiều trận ngập lụt hãi hùng cho cư dân sống hai bên bờ, khiến chính quyền Trung Quốc phải đau đầu ngẫm nghĩ về phương thức giải quyết.

Dự án thủy lợi Tam Hiệp, giúp người dân khỏi cảnh ngập lụt, đồng thời cung cấp cho họ điện năng và vận tải đường thủy, đã được thông qua và khởi đầu từ mùa hạ 1994 và trở thành hệ thống đê điều và thủy lợi kỳ vĩ nhất hành tinh.

Được gọi bằng cái tên “Vạn Lý Trường Thành” trên Dương Tử Giang, công trình đập Tam Hiệp cũng là một điểm đến không thể thiếu đối với du khách thăm dòng sông này; cho dù, để được nó, Trung Quốc phải chấp nhận một giá rất đắt là hy sinh vĩnh viễn một số thành phố, một số vùng dân cư, nhiều kỳ quan thiên nhiên vô giá và không ít công trình khảo cổ quan trọng.

Dương Tử Giang cũng phải chịu một sự thay đổi lớn trong hệ sinh thái, khiến một số động vật trong danh sách báo động nguy hiểm như cá heo sông Trung Quốc hay cá kiếm Trung Quốc nay đã coi như tuyệt diệt.

Du ngoạn dọc Dương Tử Giang, người lữ khách có dịp “mục sở thị” vô vàn những địa danh nổi tiếng dọc bờ sông, đã đi vào lịch sử, văn hóa và tâm thức người dân Trung Hoa từ ngàn đời nay. Đơn cử như:

– Những sự tích thời Tam Quốc của Ngụy – Thục – Ngô thế chân vạc, của những điển tích hào hùng không mấy ai không biết như ba anh em Lưu – Quan – Trương kết nghĩa vườn đào, Ngô và Thục (Chu Du và Khổng Minh) hợp lực kháng Tào trong trận Xích Bích nổi danh trên dòng Dương Tử Giang, Lưu Bị sau khi thu trận trước quân Ngô, trước khi mất phó thác con trai là Lưu Hậu Chủ cho thừa tướng Khổng Minh Gia Cát Lượng tại Bạch Ðế Thành v.v…

– Thành Đô (Tứ Xuyên), vùng đồng bằng màu mỡ từng được gọi là “Thiên Phủ Chi Quốc” (đất nước thiên đường), cố đô của nhà Thục Hán Lưu Bị cách đây 18 thế kỷ. Thành Đô cũng còn là vùng đất của nhiều văn nhân mạc khách nổi tiếng, như “Thi Thánh” Đỗ Phủ, thi hào Tô Đông Pha, và là quê hương của Ba Kim, nhà văn kiệt xuất Trung Quốc thế kỷ XX.Yangtze_River_Ngo_Thuc

Hiện nay, đây là đô thị đông dân thứ 5, đồng thời, được xem như “thủ đô thuốc Bắc của Trung Hoa”. Thành Đô có tới 172 di tích lịch sử văn hóa, trong đó nổi tiếng nhất là: Võ Hậu Từ, Thảo Đường Đỗ Phủ, Lăng Vua Thục Vương Kiến, Tam Hiệp. Khu bảo tồn gấu trúc Thành Đô với loại gấu Panda quý hiếm rất nổi tiếng, Di sản thế giới từ năm 2006, cũng là đích của nhiều tour du ngoạn của khách ngoại quốc.

– Nga Mi Sơn, một trong Tứ đại Phật giáo danh sơn (bốn núi Phật Giáo lớn nhất Trung Hoa), địa thế cao chót vót, phong cảnh hữu tình, được ví như “Nga Mi thiên hạ tú”. Sách “Thủy Kinh chú” nói về Nga Mi Sơn như sau: “Cách Thành Đô trăm dặm, dưới bầu trời thu xanh trong, ở phía xa hai dãy núi đối nhau như mày ngài”.

Thời gian đầu, Nga Mi Sơn là vùng đất của Đạo giáo, nhưng về sau khi Phật giáo du nhập vào Trung Quốc thì cả Đạo giáo và Phật giáo đồng tồn tại ở đây. Cho đến thời Tùy – Đường, Nga Mi Sơn đã trở thành nơi tụ tập của Phật giáo. Được xem như là đạo tràng của Phổ Hiền bồ tát, Nga Mi Sơn cùng bức tượng Lạc Sơn Đại Phật cao 71 mét, là tượng Phật ngồi tạc trên vách đá lớn nhất thế giới ở núi Thê Loan, bên ngã ba của các dòng sông Mân Giang, Đại Độ Giang và Thanh Y Giang, được công nhận là Di sản Thế giới năm 1996.

Thăm Nga Mi Sơn, du khách sẽ có dịp thưởng ngoạn những ngôi chùa cổ kính, nổi bật là Vạn Niên Tự có kiến trúc mang đậm dấu ấn của Đạo giáo, nhưng lại có vẻ tương tự lăng mộ Thành Cát Tư Hãn. Trong Vạn Niên Tự, có tượng đồng Phổ Hiền bồ tát uy nghiêm cưỡi voi, cao 7,35 m, nặng 62 tấn.

– Thanh Thành Sơn, một trong những cái nôi của Đạo giáo Trung Quốc, đã được UNESCO công nhận là Di sản thế giới năm 2000 cùng công trình thủy lợi Đô Giang Yển. Thanh Thành Sơn và Nga Mi Sơn còn vang bóng trong các pho truyện kiếm hiệp và thư tịch cổ Trung Hoa, như những môn phái võ thuật lừng danh của xứ sở này một thuở.

– Quần thể tượng khắc đá Đại Túc tại Trùng Khánh, đa phần tập trung trên núi Bảo Đỉnh (một trong những vùng đất linh thiêng của Phật giáo với câu truyền tụng trong dân gian “Thượng triều Nga Mi, hạ triều Bảo Đỉnh”) và vách núi Bắc Sơn, quy mô lớn và nghệ thuật điêu khắc tinh xảo, hình thức vô cùng phong phú.

Với hơn 5 vạn pho tượng được chạm khắc bằng đá, phân bố ở hơn 40 địa điểm, trong đó chủ yếu là các pho tượng của đạo Phật, sau đó là Đạo-giáo và Nho-giáo, và tượng một số ít nhân vật lịch sử, đây là quần thể tượng thể hiện rất điển hình nghệ thuật tạc tượng Phật của Trung Quốc. Tượng khắc đá Đại Túc đã được công nhận di sản văn hóa thế giới năm 1999.Yangtze_River_DaiTuc_BaoBinh

– Thành phố Kinh Châu, tọa lạc ở trung độ của Dương Tử Giang, một nơi có tầm quan trọng chiến lược về mặt quân sự, kinh tế và phân phối hàng hóa từ thời xa xưa. Là kinh đô của 20 vị vua trong 411 năm của nước Sở trong thời Xuân Thu và Chiến Quốc (thuộc nhà Chu), của Tề Hòa Đế nhà Nam Tề, Lương Nguyên Đế, và Hậu Lương; của quốc gia Nam Bình thời kỳ Ngũ đại thập quốc, nhưng cái tên Kinh Châu được người Việt biết đến nhiều nhất trong lịch sử thời Tam Quốc, là nơi trấn thủ của danh tướng Quan Vân Trường, và cũng là nơi ông từ giã cõi trần.

– Vũ Hán, thành phố đông dân nhất miền trung Trung Quốc nằm ở ngã ba Dương Tử Giang và Hán Thủy, từ lâu được xem là trung tâm của thi họa và học thuật, nổi tiếng với tòa lầu Hoàng Hạc “hạc vàng mây trắng” được dựng trên một gò cao bên bờ Dương Tử Giang.

Đứng trên lầu có thể bao quát cả một vùng sông Dương Tử – gồm bãi Hán Dương, Châu Anh Vũ, Quy Sơn, Hạc Sơn -, lầu Hoàng Hạc được nhà thơ Thôi Hiệu đời Đường khắc họa “thần sầu” trong thi phẩm “Hoàng Hạc Lâu”: “Nhật mộ hương quan hà xứ thị – Yên ba giang thượng sử nhân sầu”, mà thi hào Tản Đà đã dịch một cách hết sức tài hoa, thể hiện cái buồn man mác mà có người cho là còn hơn cả nguyên bản: “Quê hương khuất bóng hoàng hôn – Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai”.

– Cổ Cầm Đài tại Hán Dương, với tích Bá Nha – Tử Kỳ, biểu tượng của sự hiểu biết, tâm đắc, chia sẻ nỗi niềm trong tình cảm, quan niệm, trong nhận thức thế sự cuộc đời. Đây là nơi mà, theo sách “Lã Thị Xuân Thu” của Lã Bất Vi, “Bá Nha gảy đàn, Chung Tử Kỳ ở ngoài nghe trộm, khen rằng: ngun ngút như núi Thái Sơn, cuồn cuộn như dòng nước chảy”.

Thi hào Nguyễn Du, trong “Truyện Kiều”, đã có câu:

Rằng nghe nỗi tiếng cầm đài
Nước non luống những lắng tai Chung Kỳ

– Động Đình Hồ, hồ lớn thứ hai của Trung Quốc, có diện tịch xê dịch từ 2.820-20.000 km² phụ thuộc vào từng mùa. Có tới 9 dòng sông lịch sử đổ vào Động Đình Hồ, trong đó ngoài Dương Tử Giang, còn hai con sông Tiêu Giang, Tương Giang rất nổi tiếng trong văn thơ và hội họa sơn thủy Trung Quốc.

Ai có về bên bến sông Tương – Nhắn người duyên dáng tôi thương – Bao ngày ôm mối tơ vương…” của nhạc sĩ Thông Đạt, hay “Kiều” của Nguyễn Du, “Sông Tương một giải nông sờ – Bên trông đầu nọ bên chờ cuối kia” cũng là nói về dòng sông Tương chảy vào Động Đình Hồ.

Tuy nhiên, quan trọng nhất với dân Việt, Động Đình Hồ còn được coi như nguồn cội của tộc Việt (Bách Việt), như theo “Đại Việt Sử Ký Toàn Thư”: Động Đình Hồ là ranh giới phía Bắc của nước Xích Quỷ, nơi Kinh Dương Vương lấy con gái vua Động Đình là Long Nữ đẻ ra thái tử Sùng Lãm, tức Lạc Long Quân.Yangtze river_vannam

Lạc Long Quân kết hôn với công chúa Âu Cơ, sau lên thay Kinh Dương Vương đổi tên nước là Văn Lang. Nước Việt khởi nguồn từ đó!

– Hai ngọn núi Vu Sơn, Vu Giáp, gắn liền với sự tích yêu đương cùng nữ thần núi “sớm đi làm mây – chiều đi làm mưa” của vua Sở Trang Vương thời Chiến Quốc, để rồi văn học Trung – Việt có những điển tích “mây mưa”, “giấc Vu Sơn”, “đỉnh Giáp Non Thần” hay “Vu Giáp”, “giấc mộng Dương Đài”… để chỉ cảnh yêu đương của nam nữ, chẳng hạn, trong bài “Thanh Bình Điệu” nổi tiếng của thi hào Lý Bạch đời nhà Đường:

Đầu cành sương đọng ngát hương đông.
Mây mưa Vu Giáp nỗi đau lòng.

Hay trong “Đoạn Trường Tân Thanh” của Nguyễn Du, đoạn tả cảnh Kim Trọng đang thiu thiu ngủ thì nàng Kiều lén song thân sang thăm chàng:

Bâng khuâng đỉnh Giáp Non Thần
Còn ngờ giấc mộng đêm xuân mơ màng.

– Thành phố Nhạc Dương, nằm ở phía Đông Bắc Hồ Nam, nơi một nửa Động Đình Hồ đổ vào Dương Tử Giang. Đó là một đô thành có lịch sử lâu đời, nổi tiếng thiên hạ với câu “Động Đình thiên hạ thủy – Nhạc Dương thiên hạ lâu”.

Trong hàng ngàn năm, Nhạc Dương là nơi tụ hội của các thi hào văn nhân, là đất tranh hùng của các nhà cầm quân lỗi lạc. Nhạc Dương còn có sông Mịch La, một nhánh của sông Tương, nơi đại thần nước Sở Khuất Nguyên trẫm mình.

Danh thắng lừng lẫy nhất của Nhạc Dương là Nhạc Dương Lâu sừng sững ở phía Tây thành, quay mặt ra Động Đình Hồ. Là một trong “Giang Nam tam đại danh lâu” (Đằng Vương các, Hoàng Hạc lâu, Nhạc Dương lâu), lầu Nhạc Dương vốn là lầu duyệt binh do danh tướng Lỗ Túc của Đông Ngô thời Tạm Quốc xây dựng và đến thời nhà Đường mới có tên Nhạc Dương lâu.
Tòa lầu xây toàn bằng gỗ, lầu chính có 3 tầng, đặc biệt là không dùng đinh ốc. Các thi hào như Lý Bạch, Bạch Cư Dị, Đỗ Phủ đều đã đến đây ngâm vịnh, đề thơ. Thi sĩ, nhà chính trị nổi tiếng Phạm Trọng Yêm đời Bắc Tống có tác phẩm “Nhạc Dương lâu ký”, để đời với tư tưởng người làm chính trị phải “tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu, hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc” (lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau cái vui của thiên hạ).

Thi hào Nguyễn Du của Việt Nam cũng có bài “Đăng Nhạc Dương Lâu”, tức “lên lầu Nhạc Dương”:

Lầu cao sừng sững bờ cao
Lên cao hùng tráng biết bao cảnh trời
Mây tràn Tam Sở khắp nơi
Chín sông thu đổ nước vời mênh mông
Ba lần say Lã Đồng Tân
Cố hương khuất áng mây Tần xa xa
Hắt hiu gió thổi mình ta
Chim hồng, chim nhạn bóng tà kêu thương.

Như thế, có thể thấy rằng, du ngoạn Dương Tử Giang đồng thời cũng là một cuộc hành trình thú vị và văn hóa, ngược chiều thời gian và xuôi theo một không gian kỳ vĩ, để tìm hiểu và có thêm ý niệm về Trung Quốc, một quốc gia từng có lịch sử văn minh chói lọi và đến nay vẫn là một đại cường có ảnh hưởng không nhỏ đến cục diện thế giới!

Hoàng Linh

 

Photos:

-Dusk on Yangtze Reiver, 2002, by Andrew Hitchcock.

-On the Yangtze River in China, just before sunset., 2007, by Troy Parfitt.

– Shrines on top of hillside on the banks of the Yangtze River, 2004, by Richard Chambers.

– Afternoon light on the jagged grey mountains rising from the Yangzi River gorge, in south-western China’s Yunnan Province, 2005, by Peter Morgan.

-Ships on the Yangtze River in Nanjing, 2007, by Cheol Ryu

Thượng Hải (I)

Đông Phương Minh Châu (I)

Người Trung Quốc thường nói, nếu muốn tìm hiểu lịch sử 2 ngàn năm của Trung Hoa, nên viếng thăm thành Tây An; tìm hiểu 500 năm, nên tới Bắc Kinh; còn 100 năm, nên đến Thượng Hải. Có lẽ cần bổ sung: muốn “mục sở thị” sự phát triển chóng mặt của nền kinh tế tại một số đô thị lớn của Trung Quốc trong vòng 2-3 thập niên trở lại đây, nhất thiết phải du ngoạn Thượng Hải, niềm tự hào của xứ sở lớn nhất hành tinh này!

Thượng Hải, thành phố “trên biển” (theo nghĩa tên gọi của nó), là một vùng đất thật đặc biệt. Nằm bên cửa sông Dương Tử, đoạn đổ ra Thái Bình Dương, là đô thị hiện đại và lớn nhất Trung Quốc với dân số gần 19 triệu dân, Thượng Hải được xem là thủ đô kinh tế của Đại lục.Montage of Shanghai

Hải cảng tại đây thuộc loại sầm uất nhất thế giới, hơn cả cảng Singapore và Rotterdam (Hòa Lan). Ấy vậy mà, trong những năm tháng đau thương cách đây hơn một thế kỷ rưỡi, khi bị các thế lực ngoại bang xâu xé, khi nhiều nơi treo tấm biển mạ lỵ “Cấm chó và người Hoa” và dân Trung Quốc bị coi là “con bệnh của Đông Á” (Đông Á bệnh phu), thì Thượng Hải cũng chính là tâm điểm của nỗi nhục nhã ấy.

Còn nhớ, trong bộ phim “Tinh Võ Môn” (Fists of Fury) nổi tiếng, có cảnh Lý Tiểu Long (Bruce Lee) trong vai đệ tử xuất sắc Trần Chân của sư phụ Hoắc Nguyên Giáp tung cước đá vỡ một tấm biển “Cấm chó và người Hoa” như thế – cứ mỗi lần phim được chiếu, tới cảnh này, là lại thu hút những tràng vỗ tay như sấm dậy của khán giả người Hoa mang tinh thần dân tộc trong lòng.

(Hoắc Nguyên Giáp là một nhân vật võ lâm lừng danh của Trung Hoa đầu thế kỷ XX, người sáng lập Tinh Võ Môn tại Thượng Hải, một hiệp hội võ thuật chủ trương tập trung những thanh niên yêu nước trên tinh thần rèn luyện thân thể và tự vệ trước ngoại bang.)

Lần lại những trang sử của thành phố này, cái tên Thượng Hải được xuất hiện vào đời nhà Tống, khi nơi này bắt đầu mang dáng dấp một hải cảng đông đúc. Tuy nhiên, trong nhiều thế kỷ, nơi này vẫn bị coi như một làng chài hẻo lánh, lạc hậu và không có được những kiến trúc thật cổ kính so với phần lớn các thành phố khác của Trung Quốc.

Bù lại, từ lâu đời nay, người dân Thượng Hải có bản tính năng động, dám làm và có khả năng kinh doanh rất tốt, khác với cư dân đa số các đô thành khác ở Trung Quốc, thường chỉ chuộng thi phú, coi thường việc thông thương.

Cho đến đời hoàng đế Càn Long nhà Thanh, Thượng Hải trở thành một cảng quan trọng của khu vực Dương Tử Giang và sông Hoàng Phố. Do vị trí đặc biệt quan trọng của thành phố này bên cửa ngõ Dương Tử Giang, cuối thế kỷ XVIII, các thương gia Anh Quốc đã dùng tàu bè chở thuốc phiện vào tiêu thụ hàng loạt tại Trung Quốc, khiến người Hoa sức cùng lực kiệt và tiền của, vàng bạc trôi nổi ra ngoại quốc.

Đầu thế kỷ XIX, ý thức được mối hiểm họa từ ma túy, triều đình nhà Thanh – khi đó đã vào hồi suy tàn – ban bố nhiều biện pháp kiểm soát và cấm đoán các thương thuyền đến từ nước Anh. Tuy nhiên, với đội chiến thuyền hùng hậu nhất thế giới thời bấy giờ, đế quốc Anh đang ở độ “hoàng kim” đã phát động một cuộc chiến lớn, được sử sách gọi bằng tên “Chiến tranh nha phiến”, rốt cục khiến nhà Thanh đại bại và buộc phải ký “Hiệp ước Nam Kinh” ngày 29-8-1842.

The Bund in Shanghai 1928 Trung Quốc phải cúi đầu chấp nhận nhiều điều kiện rất nhục nhã như cắt nhượng cho Anh mảnh đất Hương Cảng, mở các cửa biển quan trọng nhất cho thương thuyền Anh, Pháp, Bồ Đào Nha… Thượng Hải biến thành một vùng đất nhượng địa: Nam Phố, một khu đất riêng ở bờ Tây con sông Hoàng Phố bị cắt cho Anh, Pháp thành khu vực Tô giới, như một vương quốc dành riêng cho người ngoại quốc mà tại đó, luật pháp Trung Quốc không được áp dụng. (Về sau, sử gọi khái niệm đặc miễn về luật pháp ấy đối công dân nước ngoài, là “lãnh sự tài phán”).

Như thế, từ hậu bán thế kỷ XIX, Thượng Hải bị xâu xé và biến thành đối tượng tranh giành của các cường quốc ngoại bang Anh, Pháp, Bồ Đào Nha, Ý, Nhật, Nga trước sự bất lực của triều đình nhà Thanh. Nơi đây trở thành mảnh đất màu mỡ của tội phạm, với sự xuất hiện của những băng đảng nắm quyền điều hành và bảo kê các sòng bạc, nhà thổ và mọi hoạt động kinh doanh.

Kể từ đó, Bến Thượng Hải (The Bund) bên bờ sông Hoàng Phố đã trở thành một khái niệm, một biểu tượng của Thượng Hải thời loạn lạc, với những cuộc chiến tranh giành lãnh địa đẫm máu của các phe nhóm tội phạm bên cạnh những chuyện tình éo le, những cảnh đời cay đắng. Hình ảnh này, về sau, vào năm 1980, đã được tái dựng trong loạt phim “Bến Thượng Hải” vừa hào hùng, vừa lãng mạn, được liệt vào hàng kinh điển điện ảnh của Hồng Kông với sự thủ diễn của các tài tử Châu Nhuận Phát, Triệu Nhã Chi và Lữ Lương Vỹ, cùng bản nhạc nền “Máu nhuộm bãi Thượng Hải” được cả Châu Á biết đến.

A village on rivers in Shanghai

Hoàng Linh

 

Photos:

  • Montage of various Shanghai images: All CC/PD sources:
  •  File:2012 Pudong.jpg, File:ShanghaiBundpic2.jpgm File:Yu Garden 2.jpg, File:NanjingRoad1.jpg, File:Expo Axis & China Pavilion.jpg
  • The Bund, Shanghai in 1928, showing a view of the World War I Memorial, 1928, Unknown.
  • A village on rivers in Shanghai suburban, China, Oct 2006, by Fanghong
  • Featured Image: Old City of Shanghai will walls and seafront, 17th Century, Dajing Ge Pavillon,  by World Imaging

Thượng Hải (II)

Đông Phương Minh Châu (II)

Chính lịch sử đau đớn trong quá khứ của Thượng Hải lại tạo cho đô thị này một dáng dấp đa văn hóa, đa chủng tộc, tạo cho người dân tính cách can trường, phóng khoáng và mạnh bạo trong kinh doanh.

Shanghai World Financial CenterNgay từ đầu thế kỷ XX, Thượng Hải đã là trung tâm tài chính thứ ba thế giới (chỉ sau New York và London), đồng thời, là trung tâm thương mại lớn nhất vùng Viễn Đông.

Tuy nhiên, trong nhiều thăng trầm của Trung Quốc thế kỷ trước, Thượng Hải lại luôn đóng vai trò chủ đạo về chính trị. Trong thời Trung Hoa Dân Quốc, thành phố này từng là nơi tập trung của giới trí thức và các mưu đồ chính trị, phe phái.

Thưọng Hải cũng chứng kiến những đau thương của sự ngu muội Hồng Vệ Binh thời gian diễn ra “Đại Cách Mạng Văn Hóa” do Mao Trạch Đông khởi xướng, mà Trịnh Niệm, một phụ nữ quả cảm và bản lĩnh đã ghi lại trong hồi ký “Sống và Chết tại Thượng Hải”.

Trong nạn “Tứ Nhân Bang”, những người am tường lịch sử còn nhớ: các nhân vật chủ chốt như Giang Thanh, Trương Xuân Kiều, Diêu Văn Nguyên đều là người Thượng Hải, hoặc chọn Thượng Hải là “chiến địa” trong các hoạt động văn hóa và chính trị của họ.

Phải đợi đến khi lãnh tụ Đặng Tiểu Bình chủ trương cải cách kinh tế theo chiều hướng lấy kết quả làm trọng, bất chấp phương pháp (“mèo trắng cũng như mèo đen, miễn là bắt được chuột”), và nhất là từ sau năm 1990, thì Thượng Hải mới được biết đến nhiều hơn trên vai trò trung tâm kinh tế hàng đầu của Trung Quốc, “vượt mặt” các vùng kinh tế lớn như Thâm Quyến, Quảng Châu.

Để rồi, song song với một Nam Phố đến nay vẫn giữ những nét cổ kính, đa chủng tộc của một Thượng Hải thời nhượng địa, đã xuất hiện Phố Đông (Pudong), một vùng thành phố mà chỉ 20 năm trước vẫn còn là ruộng nước, nay đã thành nơi tụ họp của hàng ngàn tòa nhà chọc trời, đại bản doanh của hàng trăm tập đoàn thế giới và có kiến trúc tân kỳ, hoàn chỉnh khiến du khách có thể liên tưởng đến những gì thường thấy trong các bộ phim giả tưởng về thế giới trong tương lai.

Ngày nay, đến Thượng Hải, người lữ khách sẽ cảm nhận được hình bóng quá khứ và nhịp sống hiện tại, song hành tại Nam Phố và Phố Đông, được phân cách bởi con sông Hoàng Phố.

Nếu Nam Phố là Thượng Hải của một thế kỷ rưỡi trước, nơi tập trung vô vàn dấu tích của thời đô thị này còn là tô giới của các thế lực ngoại bang, thì Phố Đông là hằng hà sa số ngân hàng, cơ sở tài chính và thương mại, và đặc biệt, tòa Tháp Truyền Hình Đông Phương Minh Châu (Oriental Pearl TV Tower) xây dựng năm 1995.

Với chiều cao 468m, đây là tòa tháp cao nhất Trung Quốc và đứng thứ ba thế giới, là niềm kiêu hãnh và là nơi tụ họp của người dân Trung Quốc mỗi khi có dịp “hành hương” Thượng Hải. Ở độ cao 263 m, Đông Phương Minh Châu có một khu sân hình tròn, nơi du khách có thể chiêm ngưỡng toàn cảnh Thượng Hải.

Chắc chắn, bạn sẽ dừng chân nơi Bến Thượng Hải, cũng là điểm dừng của đại đa số các tour lữ hành, nơi bạn có thể buông tầm nhìn về phía hai bên bờ Đông và Nam của con sông Hoàng Phố để chiêm ngưỡng những kiến trúc khác biệt.

Sau khi “cưỡi ngựa xem hoa” tại Phố Đông (mà nếu muốn thăm thú kỹ càng, chắc cần phải nhiều tuần!), bạn nên qua Nam Phố, thả bộ trên Nam Kinh Lộ, con đường thương mại dài hơn 5 cây số, được coi là sầm uất nhất ở Trung Quốc (“Trung Hoa đệ nhất lộ”), nơi có những thương xá sang trọng, tấp nập không thua kém Fifth Avenue ở New York, hàng ngày đón hơn 1,7 triệu lượt khách qua lại.

Thượng Hải cũng luôn khiến du khách kinh ngạc vì sự hòa trộn một cách hài hòa và kỳ lạ giữa Đông và Tây, cũ và mới. Cho dù không có nhiều di tích cổ kính như các đô thị lớn kháa của Trung Quốc, nhưng khu Phố Cổ  (Old Town) gần bờ sông Hoàng Phố còn giữ được khá nguyên vẹn Dự Viên (Yuyuan Garden), một điển hình của nghệ thuật kiến trúc lâm viên (nhà cổ và vườn cảnh) thời Minh và Thanh, rất ngoạn mục và tạo cảm giác thư giãn với vô số hòn non bộ, hồ cá và nhiều tảng đá hình thù kỳ quặc.

Chùa Ngọc Phật (Jade Buddha) lớn và cổ nhất của Thượng Hải, bày các pho tượng Đức Phật Thích Ca bằng ngọc trắng, khắc từ một khối cẩm thạch, có nạm kim cương và đá quý ở sâu bên trong (tượng do Huệ Căn Đại sư ở Phổ Đà Sơn sang Ấn Độ lễ Phật tích, đi ngang Miến Điện được xứ này tặng mang về).

Nếu bạn muốn tìm lại cảm giác của những khu chợ Tàu đầu thế kỷ trước, bạn chỉ cần rời bước khỏi Dự Viên để hòa mình vào dòng người như nước bên những cửa hàng, tiệm đồ lưu niệm đủ loạ tại Phố Cổ.

Cho dù là một đô thị hiện đại vào hàng nhất nhì thế giới, đâu đây, Thượng Hải vẫn mang dáng dấy của Trung Quốc, một xứ sở vốn có truyền thống kỷ luật, phong kiến, thậm chí độc đoán. Du khách vẫn hay có thể thấy trên vỉa vè, những tốp ngưòi tập trung vào buổi sáng, chăm chú nghe “nhật lệnh”. Hoặc, những nhân viên mặc trang phục công sở, đứng tập thể dục cho thư thái tinh thần và thể xác dưới sự “lĩnh xướng” của một “tốp trưởng” nào đó.

Thượng Hải – hòn ngọc Phương Đông – là như vậy, tân kỳ và quyến rũ, lãng mạn và bề thế, quen và lạ, có lẽ sẽ để lại ấn tượng không bao giờ quên trong lòng khách thập phương có dịp đặt chân đến nơi đây, dầu chỉ một lần.

Hoàng Linh

Photos:

  • The skyline of Phudong in Shanghai, China. May 2009, by Dawvon
  • Yu Garden in Shanghai, Aug 2006, by Chakal
  • Shanghai World Financial Center and Jin Mao Tower, June 2009, by Jakub Halun
  • Featured Image: The Bund at Night, Sept 2009, Original uploader was Jhong at zh.wikipedia