Warsaw, Poland

Warszawa  Anh Dũng và Kiêu Hùng

Có một thành phố nằm giữa lòng Châu Âu, đã trải qua những tổn thất kinh hoàng của Đệ nhị Thế chiến, từng được coi là biểu tưọng của lòng quả cảm và ái quốc, và nay là thủ đô của xứ sở từng là quê hương của cố Đức Giáo hoàng John Paul Đệ nhị. Đó là Warsaw, hay Warszawa, gọi theo tiếng Ba Lan.

Nằm bên bờ con sông Wisla, cái tên Warszawa là sự kết hợp của Wars (người đánh cá), và Sawa (nàng tiên cá trên sông Wisla). Đó là truyền thuyết có trong dân gian từ ngàn đời nay. Thủ đô này có di tích lịch sử hơn 700 năm. Thoạt đầu, Warszawa chỉ là một ngôi thành do hoàng thân xứ Mazovia xây dựng bên bờ sông Wisla, nay vẫn còn dấu tích tại Hoàng Cung Ba Lan.

Dần dần, quanh ngôi thành, hình thành một khu vực mà ngày nay được gọi là Thành Cổ Warszawa. Từ năm 1550, trong lịch sử đầy bão táp của Ba Lan với những gián đoạn không đáng kể, Warszawa vẫn là thủ đô của đất nước này.

Ngày nay, du khách tới thăm Warszawa sẽ thấy khu Thành Cổ hòa quyện làm một với Thành Mới và một số quận xưa là ngoại thành của thành phố. Thành Cổ lịch sử của Warszawa, xưa kia, được chắn giữ bởi bức tường thành có 11 cửa ô, cũng như những chiến hào bao bọc thành phố. Hiện tại, những chiến hào đã được thay bằng công viên, nhưng ở nhiều đoạn, chúng ta vẫn có thể thấy bóng dáng của một thời qua những vách tường cổ còn sót lại.

Đặt chân lên mảnh đất lịch sử Warszawa, bạn có thể tự tìm hiểu thành phố này với một chiếc bản đồ và một cuốn sách “hướng đạo” trong tay. Không nhất thiết phải khởi đầu từ khu Thành Cổ, nếu có thời gian, thoạt tiên, bạn có thể thả bộ trong Công viên Hoàng gia Lazienki, công viên rộng lớn nhất, đẹp nhất và nổi tiếng nhất đã có hơn 300 năm  của thủ đô Warszawa. Đây là tụ điểm nghỉ ngơi và dạo chơi của đa số du khách ngoại quốc viếng thăm Ba Lan.

Tại nơi đây, ngay ở cổng vào, bạn có thể gặp Fryderyk Chopin, nhà soạn nhạc, nghệ sĩ dương cầm vĩ đại của xứ sở Ba Lan, qua tượng đài kỳ vĩ được xây từ thập niên 20 thế kỷ trước. Bị chiến tranh hủy hoại vào năm 1940, 18 năm sau, đại diện xuất chúng của trường phái lãng mạn trong âm nhạc thế giới lại được tái khắc họa theo hình mẫu ban đầu, và đây cũng là nơi, trong mùa hạ, vào mỗi ngày Chủ nhật hàng tuần, các nghệ sĩ dương cầm lại trình tấu những bản nhạc bất tử của vị đại nhạc sư Ba Lan, Fryderyk Chopin.

Thong dong vài giờ theo những con đường rợp bóng cây của công viên đại ngàn Lazienki, bạn sẽ thấy vô vàn những dấu ấn của quá khứ, từ cung điện mùa hè của các triều đại vua chúa Ba Lan đến tòa dinh thự tuyệt đẹp được xây từ thế kỷ XVII trên mặt hồ soi bóng nước.

Con đường Hoàng gia, một trong những đại lộ rộng nhất của Châu Âu, sẽ dẫn bạn từ Công viên Lazienki đến Thành Cổ, cũng đồng thời là nơi bạn có thể mục sở thị đa phần những kiệt tác kiến trúc như nhà thờ, cung điện, nhà hát của thủ đô xứ Ba Lan.

Bạn sẽ dễ dàng nhận ra Cung điện Hoàng gia Warszawa tại quảng trường Thành Cổ, nơi sừng sững và vươn cao bức tượng vua Zygmunt Đệ nhị trên chiếc cột đá cao 22 mét; đây chính là vị vua đã dời thủ đô Ba Lan từ cố đô KraKow về Warszawa vào thế kỷ XVI.

Dọc theo con đường rải đá ghồ ghề, đâu có vẫn thoảng tiếng xe ngựa lạch cạch gợi nhớ một thuở, bạn có thể vào thăm Vương Cung Thánh Đừng Thánh Gioan (John) được xây theo trường phái Gô-tích. Bạn cũng thể chụp tấm hình kỷ niệm trước ngôi nhà của nữ khoa học gia vĩ đại Maria Curie, nay đã trở thành viện bảo tàng cũng như có thể rẽ vào hằng hà sa số những hàng quán nhỏ, mang đậm sắc tính của một đô thị lớn.

Cuối con đường là Quảng trường Chợ (Rynek), vuông vắn mỗi chiều chừng 80 mét và được xem là trái tim của Thành Cổ Warszawa. Có ngồi đây nhấm nháp ly cà phê, thả hồn ngắm quang cảnh tấp nập của dòng khách du lịch bên những tiệm ăn, những phòng tranh nghệ sĩ, hoặc đang quây quần ngay giữa quảng trường bên bức tượng nàng tiên cá, biểu tượng của Warszawa, họa chăng chúng ta mới có thể cảm được cái hồn của thủ đô một đất nước nghệ sĩ đã trải qua bao cơn binh biến.

Được liệt vào danh sách những di sản văn hóa thế giới của UNESCO, Thành Cổ của Warszawa với những tòa nhà mang nhiều phong cách khác nhau như hậu Gô-tích, Phục hưng hay Baroque; hẳn nhiên có thể chiếm được thiện cảm của du khách gần xa.

Warszawa cũng có những khu phố hiện đại với nhũng tòa nhà chọc trời, kiến trúc tân kỳ và hấp dẫn, hoặc, có Trung Tâm Văn hóa và Khoa học cao ngất 30 tầng, món quà của Liên Xô, đến nay vẫn được giữ lại như di chứng của một thời bị cai trị và vẫn là nơi khách du lịch hay “quá bộ” lên đỉnh cao nhất 234 mét để có thể nhìn toàn cảnh thành phố.

Cạnh đó, thủ đô của Ba Lan cũng là một trung tâm văn hóa của Châu Âu với vô số liên hoan phim ảnh, văn nghệ, nhạc cổ điển, mà có lẽ được người Việt biết đến nhiều nhất vẫn là cuộc thi Dương Cầm Quốc tế mang tên Fryderyk Chopin tổ chức 5 năm một lần. Đây là một trong những kỳ thi dương cầm có tầm vóc và uy tín nhất thế giới.  26 năm trước đây, Đặng Thái Sơn, một danh cầm Việt Nam đã đoạt ngôi vị quán quân.

Tuy nhiên, sẽ không đầy đủ nếu chúng ta chỉ biết đến Warszawa thoáng qua như thế. Warszawa, trước hết và hơn cả, là một thành phố kiêu hùng với lịch sử anh dũng của dân tộc Ba Lan, như biểu tượng con đại bàng trắng không bao giờ chịu khuất phục, ngay cả trước những kẻ thù mạnh hơn mình gấp bội.

Tại đây, vào năm 1920, ngay bên bờ sông Wisla, đại binh của Hồng quân Liên Xô do chính nhà độc tài Stalin và các tướng lĩnh Xô-viết nổi tiếng chỉ huy, với chủ trương dùng vũ lực để xuất khẩu cách mạng, tưởng chừng đã dễ dàng nuốt chửng Warszawa, để rồi phải đại bại dưới tay thống chế Józep Pilsudski, tổng tư lệnh quân đội, đồng thời là người sáng lập nước Ba Lan độc lập.

Mười chín năm sau, bị Liên Xô và Đức quốc xã đồng bội ước tấn công, Ba Lan bị xóa tên khỏi bản đồ thế giới và Warszawa bị chiếm đóng. Chỉ nội trong vòng ít ngày, thành phố bị Đức thả bom rải thảm, hủy hoại 15% đô thị. Toàn bộ cư dân gốc Do Thái của thủ đô, chiếm 30% tổng dân số Warszawa, bị đưa vào các ghetto để rồi bị đưa đi các trại tập trung, lò thiêu người Auschwitz.

Trước tình cảnh không còn lối thoát, năm 1940, dân Warszawa đã đứng lên khởi nghĩa và trụ lại được trong vòng 1 tháng, cho dù họ yếu hơn quân Đức rất nhiều kể cả về lực lượng lẫn vũ khí. Nhưng những đau thương ấy chưa thấm vào đâu so với tấn thảm kịch cuối năm 1944: Hồng quân Liên Xô, theo lệnh của Stalin, đã bàng quan thúc thủ tại rìa thành phố, ngay bên bờ con sông Wisla, để chứng kiến cảnh phát-xít Đức phá hủy 85% đô thị Warszawa, kể cả khu Thành Cổ và Cung điện Hoàng gia, và tàn sát vài trăm ngàn du kích quân Ba Lan.Pilusdski statue and honor guards

Dù chỉ định tiến hành cuộc khởi nghĩa trong vòng 48 giờ, nhưng du kích quân Warszawa đã cố thủ được 63 ngày và sự hy sinh bi thảm của họ là lời phán xét nặng nề đối với chính sách bội phản của chính quyền Liên Xô thời ấy!

Sau cuộc chiến tàn bạo, không ít du kích quân đã bị mật vụ chính trị Xô-viết giết hại hoặc đưa về các trại tập trung ở Siberia, đô thành Warszawa tiêu điều trong đổ nát. Phải mất mấy chục năm mới có thể tái tạo lại từng bước những tòa nhà quan trọng nhất của khu Thành Cổ, nhưng dáng vẻ cổ kính kiểu Baroque của Warszawa đã vĩnh viễn hủy hoại.

Du khách đến thăm thủ đô của Ba Lan, rất nên bỏ ra ít phút để nghiêng mình tưởng nhớ những người anh hùng một thuở, từ bức tượng vị thống chế Józef Pilsudski trước Công viên Lazienki đến tượng đài những người con đã ngã xuống vì tổ quốc.

Bởi lẽ vẻ đẹp thực sự của Warszawa, con đại bàng bao lần hồi sinh từ đống tro tàn, là ở những nét kiêu hùng và bi thương như vậy!

Hoàng Linh

Photos:

Collage  Top: Financial centre, Middle left: Royal Castle, Middle right: Old Town Market Place, Bottom left: Presidential Palace, Bottom right: Wilanów Palace
Lazienki Palace by Maciek P
Chopin’s Piano by Ricz Ribeiro
St John’s Cathedral by Solidphotouploader
Piłusdski statue and honour guards by Pawel Kabanski
Featured image: Solomon Room in the Palace on the Water in Warsaw, gouache on paper, 1892, Artist: Ludomir Dymitrowicz

Frédéric Chopin (II)

Chopin, cái tên nghe thật quen thuộc với dòng nhạc lãng mạn những năm đầu của thập kỷ 19, Frédéric Chopin, nhạc sĩ  người Ba Lan.

Nói về Chopin, thì không thể không nói đến giai đoạn thứ hai trong cuộc đời sáng tác khi vào năm 1830, Chopin 20 tuổi chàng thanh niên mang dáng dấp của một nhà quí tộc nhưng rất thư sinh đã lên đường đi Paris mà Chopin không hề biết rằng, lần ra đi đó là mãi mãi vĩnh biệt  quê hương.

Paris, những thập niên đầu của thế kỷ 19 đã là nơi tụ hội của giới văn nghệ sĩ đại diện cho Thi Ca – Âm Nhạc – Hội Họa của nhiều trường phái nghệ thuật khác nhau mà trong đó phải kể đến Victor Hugo, A. Dumas, Balzac, George Sand, nhà thơ người Ðức Henri Heine, hay Franz Liszt, nhạc sĩ người Hungary.Manuscript of Chopin's Polonaise Op 53

Với Chopin, tên tuổi của người nhạc sĩ chơi đàn piano  nổi tiếng này chắc cũng không lừng danh và đạt đến đỉnh cao nghệ thuật nếu không có dáng dấp của một người đàn bà, người đó là George Sand. Với nhận định có vẻ mang tính “chủ quan” ấy của không ít văn nghệ sĩ cùng thời đã tạo nên huyền thoại về cuộc tình của Chopin – George Sand. Lần đầu tiên gặp nhau qua sự se duyên của Franz Lizst, nhạc sĩ người Hungari, lúc đó cũng sống tại Paris. Ngay trong buổi ban đầu lưu luyến ấy, trong khi George Sand như bị tiếng sét ái tình ngã gục trước Chopin, chàng thư sinh trẻ hơn mình 6 tuổi thì Chopin, bằng cảm nhận của người nghệ sĩ chợt hiểu ra rằng, George Sand chính là người đàn bà trong mộng của mình.

Với Chopin, George Sand là nguồn cảm hứng của những dòng nhạc, của niềm an ủi, vỗ về mà người nghệ sĩ nào cũng cần tìm ở người tình một sự tĩnh lặng, để rồi lúc thì dâng hiến, lúc thì thắp lên ngọn lửa tình dâng trào, lúc thì lại rụt rè e ấp núp bên người tình với một nỗi buồn mênh mang.

Tình cảm mà Chopin dành cho George Sand có thể nói là vô tận, cũng từ đó tạo cho Chopin nguồn cảm hứng để sáng tác những bản Nocturne viết vào năm 1838 khi không gian xung quanh chỉ có hai người và Chopin đã chơi đàn và sáng tác suốt đêm chỉ để cho George Sand nghe. Portrait of Maria WodzinkaThế những cũng năm 1838 một dấu ấn để lại trong mối tình Chopin và George Sand khi mọi người “sửng sốt” biết rằng chính George Sand là người đã viết thư cho Grymala một người bạn của Chopin có liên quan đến nàng thiếu nữ Maria Wodzinska mới 18 tuổi đem hết lòng thương yêu Chopin.

Trong những lá thư gửi cho những người bạn của Chopin, George Sand luôn xác nhận là sẽ “chiếm đoạt” bằng được Chopin trong khi bạn bè của Chopin cho rằng George Sand không xứng với Chopin cả về tuổi tác lẫn “tình trường”. Trong khi George Sand là người đàn bà từng trải qua nhiều cuộc tình, thậm chí từng có một đời chồng và từng gặp nhiều đổ vỡ trong mưu tìm hạnh phúc cho chính mình thì Chopin lại trong trắng, nhỏ nhẹ, mang dáng vẻ của một người dòng dõi quý tộc, trầm tĩnh, khác hẳn với cá tính của George Sand.

Trở lại với mối tình của nàng thiếu nữ Maria Wodzinka với Chopin. Nàng Maria Wodzinka với vẻ đẹp mê hoặc, thông minh, chơi đàn piano rất hay và nàng lại có khả năng đặc biệt về sáng tác.

Đứng trước những đổ vỡ “cả nghĩa lẫn tình” Chopin chỉ biết quên đi bằng những sáng tác. Cũng chính giai đoạn này là giai đoạn mà Chopin sáng tác được nhiều nhất ở thể loại Etudes. Có những lúc Chopin đã muốn quên George Sand để chỉ mong sự “tĩnh lặng” bên Maria Wodzinka, nhưng Chopin với bản tính đa cảm yếu đuối nên đã không quyết định được để ra đi với George Sand, trong khi tình yêu mà Chopin dành cho Maria Wodzinka không phải là ít.Portrait of George Sand

Nói về mối tình George Sand và Chopin thì chẳng sao kể hết. Để chia tay với nàng Maria Wodzinka đã rất khó, thế nhưng khó hơn nữa là với George Sand, người đàn bà luôn ủng hộ cho Chopin thêm thành công, nhưng cũng chính George Sand là người cũng tạo ra nhiều lời bàn tán.

Khi chia tay George Sand, sự trống vắng đã tạo cho Chopin lâm bệnh và trước lúc ra đi Chopin đã không gặp George Sand như lời đồn đãi vì khi sống Chopin từng nói “khi chết chỉ mong được chết trong vòng tay của George Sand…”.  

Chopin mất ngày 17 tháng 10 năm 1949 khi mới 39 tuổi. Khi hay tin Chopin mất, George Sand đã tìm lại trong số những kỷ vật mà Chopin để lại là một lọn tóc mà Chopin đã cắt để tặng George Sand trước đây rồi bỏ vào một bao thư đề dòng chữ: “Chopin khốn khổ ngày 17 tháng 10 năm 1849″.

Painting of Chopin at deathbed

 Frédéric Chopin (Part 2) 07/20 by AV Travel | Blog Talk Radio.

 Việt Hùng

Photos:
Featured Image: Chopin’s Polonaise depicting a ball at Count Czartoryski’s Hôtel Lambert in Paris. Oil on Canvas, 1849-1860, Artist: Teofil Kwiatkowski.
Last moments of Frédéric Chopin. Oil on Canvas, 1849-1850, Artist: Teofil Kwiatkowski.
Autograph partiture by the Polish composer Frédéric Chopin of his Polonaise Op.53 in A flat major for piano, 1842. Heineman Music Collection (Unbound), Pierpont Morgan Library Dept of Music Manuscripts and Books.
Portrait of George Sand, 1826, Oil on Canvas. Artist: Thomas Sully.

Đức Mẹ Black Madonna – Online Radio

Black Madonna in Czestochowa

Black Madonna in Czestochova

Là một thành phố nhỏ Ba Lan, nằm giữa đường từ thủ đô Warsaw đến cố đô Kraków, dân số chỉ vọn vẹn chưa đầy 250 ngàn người, nhưng Częstochowa lại là chỗ hành hương của rất đông du khách từ mọi nơi trên thế giới. Đây là thủ đô tâm linh của Ba Lan mà người bản địa sùng kính vào bậc nhất, với tòa tu viện cổ Jasna Góra và bức tranh Đức Mẹ Madonna Đen (Black Madonna) có sức mạnh nhiệm màu.

Chương trình Vòng Quanh Thế Gii phát thanh trên mng do AV Travel thc hin.

Chương trình phát ngày 15 tháng 8, 2012 lúc 10g sáng (giờ miền Tây Hoa Kỳ)

Xin bm vào link dưới đây đ nghe và ph biến cho bn bè, người thân.

 Black Madonna of Czestochowa 08/15 by AV Travel | Blog Talk Radio.

 Bài viết về Đức Mẹ Black Madonna  và tu viện Jasna Gora.

Czestochowa và Jasna Gora


THÁNH ÐỊA TÂM LINH CỦA NGƯỜI BA LAN 

Là một thành phố nhỏ Ba Lan, nằm giữa đường từ thủ đô Warsaw đến cố đô Kraków, dân số chỉ vọn vẹn chưa đầy 250 ngàn người, nhưng Częstochowa lại là chỗ hành hương của rất đông du khách từ mọi nơi trên thế giới.

Jasno Gora MonastaryĐây là thủ đô tâm linh của Ba Lan mà người bản địa sùng kính vào bậc nhất, với tòa tu viện cổ Jasna Góra và bức tranh Đức Mẹ Madonna Đen được coi là có sức mạnh nhiệm màu.

Thành lập từ thế kỷ XI, Częstochowa đã trải qua nhiều thăng trầm của không ít cuộc chiến ác liệt, như chiến tranh với Thụy Điển, với nước Pháp của Hoàng đế Napoleon và hai cuộc Thế chiến. Là nơi có cộng đồng Do Thái đông đảo, trong Đệ nhị Thế chiến, 45 ngàn người Do Thái ở Częstochowa đã bị quân Đức giết hại và mảnh đất này thì bị sát nhập vào đế chế Đức.

Tuy nhiên, du khách ngày nay đến Częstochowa sẽ không còn thấy những dấu vết hãi hùng của chiến tranh. Bù lại, có thể gặp ở đây nhiều hàng quán, di tích cổ, những cửa hiệu bán đồ lưu niệm có liên quan đến Kitô giáo tại thành phố nhỏ xinh xắn này. Trong số đó, quan trọng nhất là tu viện Jasna Góra với bức tranh Đức Mẹ Madonna Đen, biểu tượng của nền độc lập và của Giáo hội Công giáo Ba Lan.

Nằm trên một ngọn đồi cao gần 300 mét bên bờ sông Warta, tu viện Jasna Góra được nhà vua Lajos Đại đế của Hungary xây dựng cuối thế kỷ XIV, và được trao tặng cho vị hoàng thân đại diện cho vua tại Ba Lan. Về sau, Jasna Góra được trao lại cho dòng tu Pálos của Hung; tên của tu viện – nghĩa là “Núi Sáng” – cũng là do dòng tu này đặt.Interior of Czestochowa Church

Từ khi được xây dựng, Jasna Góra đã nổi tiếng là một tu viện, một tòa thành cổ đẹp, trang nghiêm; tuy nhiên, nếu thiếu bức tranh thánh Đức Mẹ Madonna Đen thì Jasna Góra đã không thể có được vị thế như ngày hôm nay trong lòng người mộ đạo Ba Lan và thế giới.  Bức tranh ấy, được đánh giá là “tạo nên sự huyền bí, cũng như bầu không khí mộ đạo trong Thánh đường Jasna Góra”, có một xuất xứ rất lâu đời. Được vẽ trên một bảng gỗ, tranh phác họa hình ảnh Đức Mẹ bồng bế Chúa Jesus khi còn ngài là con trẻ; ánh mắt của Đức Mẹ và Đức Chúa vừa nhìn thẳng vào phía đoàn người hành hương, lại vừa hướng đi đâu xa thẳm, vừa trầm tư suy tưởng, vừa toát lên sự chế ngự tôn nghiêm.

Tương truyền, Đức Mẹ Madonna Đen là tác phẩm của chính Thánh Luke, môn đệ của Đức Chúa Jesus, tác giả bản “Phúc âm” mang tên ông và chương “Tông Đồ Công Vụ” trong “Thánh Kinh Tân Ước”: Thánh Luke đã vẽ lên mặt bàn mà gia đình Chúa Jesus thường dùng bữa.

Kể từ khi bức tranh được cho là có sức mạnh màu nhiệm này được đặt tại Jasna Góra, danh tiếng tu viện vang xa và nơi đây trở thành một trung tâm hành hương có tiếng ở Châu Âu. Báu vật còn hấp dẫn cả… các băng đảng cướp, nhưng may là tranh vẫn được giữ đến ngày nay, dù chúng ta có thấy cả những vết gươm chém trên đó.

Dân Ba Lan cho rằng sự hiện diện của Đức Mẹ Đồng trinh và bức tranh thánh Đức Mẹ Madonna Đen đã đem lại vô số điều diệu kỳ cho Ba Lan. Trong số đó, nổi tiếng nhất là chiến thắng năm 1655 trước quân Thụy Điển ngay tại thành Jasna Góra, từng được mô tả tài tình trong “Nạn Hồng Thủy”, tiểu thuyết lớn của văn hào Ba Lan Henryk Sienkiewcz (giải Nobel Văn chương 1905), mà không ít người Việt đã từng có dịp đọc bản dịch Việt ngữ, hoặc xem bộ phim chuyển thể cùng tên.

Mùa hè năm ấy, đạo quân Thụy Điển ồ ạt xâm lược Ba Lan và chỉ trong một thời gian ngắn, những thành phố lớn như Warsaw, Poznan và Kraków đã thất thủ. Trung tuần tháng Mười một, một tướng Thụy Điển dẫn 3.000 lính tấn công thành Jasna Góra và đòi người dân ở dây phải đầu hàng ngày lập tức. Cha Augustyn Kordecki, linh hồn của tu viện, đã quyết định bảo vệ thành đến cùng chỉ với 170 người lính, 20 quý tộc và 70 nhà tu hành.

Trong cuộc chiến “trứng chọi đá” ấy, dân Ba Lan đã chiến đấu với lòng dũng cảm vô song, vì họ coi quân Thụy Điển đã xâm phạm nặng nề tâm linh và tín ngưỡng của họ. Sau 40 ngày công thành mà không đạt được kết quả, phe Thụy Điển phải lui binh và chiến thắng này đã góp phần không nhỏ trong việc Ba Lan thay đổi cục diện cuộc chiến trên toàn quốc.

Người Ba Lan cho rằng Jasna Góra đã thoát hiểm là do có sự bảo hộ của Đức Mẹ Đồng trinh qua bức tranh thánh Đức Mẹ Madonna Đen trong tu viện và vì thế, nửa năm sau, vua Ba Lan Jan Kazimierz – trong một buổi lễ trang trọng tại Đại giáo đường Lvov – đã hiến dâng toàn thể đất nước ông cho Đức Mẹ Maria.Alter of Czestochowa

Từ ngày ấy, bức tranh thánh tại Jasna Góra được coi như một bảo vật của Ba Lan, và Jasna Góra trở thành biểu tượng của dân tộc và quyền tự do tín ngưỡng tại Ba Lan. Tháng 9-1717, tranh Đức Mẹ Madonna Đen được chính thức đăng quang trước sự hiện diện của chừng 200 ngàn giáo dân, trên tư cách một vị thánh bảo hộ, một biểu tượng của tinh thần độc lập Ba Lan. Sau đó, trong thời gian Đế chế Nga đô hộ và muốn xóa sổ Ba Lan khỏi bản đồ thế giới, Nga hoàng Nicolai đã coi tranh Đức Mẹ Madonna Đen là “tên phản loạn Ba Lan nguy hiểm nhất”, và cấm những đoàn hồi hương về Jasna Góra.

Gần một thế kỷ sau, trong cuộc đấu tranh của Nghiệp Đoàn Đoàn Kết do thủ lĩnh Lech Walesa lãnh đạo, Đức Mẹ Madonna Đen cũng được chọn là một biểu tượng của lòng khát khao độc lập và tự do tôn giáo của người Ba Lan.

Ngày nay, đến thăm Częstochowa trong dòng người lũ lượt vào tu viện Jasna Góra để chiêm ngưỡng Đức Mẹ Madonna Đen, du khách sẽ còn được thấy bộ “trang phục” mới của bức tranh, gồm vô số hạt đá quý và hổ phách. Đó là món quà của dân Ba Lan dâng lên Đức Mẹ trong năm 2006, nhân 350 năm ngày đất nước Ba Lan được dâng hiến cho Người.

Đồng thời, đây cũng là sự biết ơn của quốc gia Ba Lan đối với cuộc đời và sự nghiệp của cố Đức Giáo hoàng John Paul Đệ Nhị đã làm phép và trao tặng vương miện vàng  cho bức tranh thánh Đức Mẹ Madonna Đen, vỏn vẹn có một ngày trước khi Ngài tạ thế!

 Black Madonna of Czestochowa 08/15 by AV Travel | Blog Talk Radio.

Hoàng Linh

Frédéric Chopin (I)

Khi nói đến dòng nhạc lãng mạn của những thập niên đầu thế kỷ thứ 19 người ta không thể không nhắc đến tên tuổi của nhà soạn nhạc người Ba Lan, người nghệ sĩ chơi đàn dương cầm nổi tiếng thế giới, đó là Frédéric Chopin.

Chopin sinh năm 1810 tại một ngôi làng nhỏ gần thủ đô Warsaw trong một gia đình dòng dõi có truyền thống nghệ thuật. Với khả năng đặc biệt, khi mới lên 8, Chopin đã bộc lộ rõ tài năng của mình khi trình diễn trước công chúng và với những sáng tác cho đàn Piano dưới hình thức như những bản hành khúc, Valse hay Polonaise.

Năm 1826 Chopin được nhận vào nhạc viện Warsaw, dưới sự dìu dắt của Giáo sư Enxne, chỉ 3 năm sau, Chopin đã tốt nghiệp nhạc viện trước sự sửng sốt về biệt tài chơi đàn piano và khả năng sáng tác của mình.

Trước những lời khuyên của bè bạn, năm 1829 Chopin quyết định lên đường đi Vienna – Áo quốc, nơi thời bấy giờ được coi là thủ phủ của nền văn hóa Âu châu. Tại Vienna, với những buổi trình diễn thành công, Chopin không những được công nhận là nghệ sĩ chơi đàn piano của thế giới mà còn được giới âm nhạc tại Vienna đánh gia cao về những sáng tác của mình.

Hai bản Công-xéc-tô (concertos) viết cho đàn piano và dàn nhạc ở cung Fa thứ và Mi thứ (F minor & E minor) mà Chopin viết trước khi rời Ba Lan đã đưa chúng ta tới tuyệt đỉnh của dòng nhạc, lúc thì day dứt, lúc thì mơ mộng, lúc thì chợt choàng tỉnh khi nhận ra những âm hưởng đó đã cho ta chạm tay tới thiên đường!

Không tuân thủ theo những truyền thống sáng tác, bản công-xéc-tô viết cho piano và dàn nhạc ở cung Mi thứ (E-minor) và Fa thứ (F-minor), Chopin chỉ sử dụng vai trò dàn nhạc làm phần đệm mà không sử dụng dàn nhạc để tạo nên giai điệu, chính vì phong cách sáng tác này đã đưa Chopin tới tuyệt đỉnh của sự thành công và cho đến nay, hai bản công-xéc-tô (concerto) viết cho đàn piano và dàn nhạc luôn được xếp vào hàng đầu của các nghệ sĩ tên tuổi cho dù nhân loại đã bước sang thế kỷ 21.

Nói về những sáng tác của Chopin thì không sao kể hết nhất là những sáng tác cho đàn piano. Chopin viết đủ thể loại, từ những bản dạ khúc Nocturne, Mazurka, Polonaise hay Valse, hay những thể loại như: Scherzo, Ballade cho tới những bản Etude, những bản Sonata viết cho đàn Piano mà trong đó phải kể đến bản Nocturne giọng Rê giáng trưởng  op.21 hay giọng Si Trưởng op. 32

Trong sáng tác, Chopin đã sử dụng những chùm âm thanh mang nhiều màu sắc để diễn tả, cộng thêm những thủ pháp trong hòa âm với những bước chuyển đột ngột tạo ra màu sắc mới trong giai điệu để rồi từ đó diễn tả ngôn ngữ của mình bằng những kịch tính khi dựng tác phẩm.

Năm 1830, tại Ba Lan, những cuộc khởi nghĩa của người dân chống lại đội quân Nga lan rộng không có môi trường để tạo điều kiện cho tài năng của Chopin và ông quyết định lên đường đi Paris.

Trước khi vĩnh biệt quê hương, trong buổi chia ly, bạn bè đã tặng cho ông một nắm đất, biểu tượng cho quê hương và hình ảnh này đã ám ảnh trong cuộc đời sáng tác của mình về sau này.

 Frédéric Chopin (Part 1) 07/19 by AV Travel | Blog Talk Radio.

Việt Hùng 

Photos:

Portrait of Fryderyk Chopin, Watercolor & Ink on Bristol Board., 1836. Artist: Maria Wodzińska.
Rare Autograph Musical Quotation Signed of Frederic Chopin Op.53 Polonaise. Provenace: Private Collection.
Chopin’s Piano next to the Barbican, in Krakow, by Ric Zribeiro
Featured Image: Chopin’s Polonaise – a Ball in Hôtel Lambert in Paris., 1849-1860. Artist: Teofil Kwiatkowski