Giai Điệu Praha (Prague)

Có người nói Praha đẹp hơn Paris. Tôi không tin. Nhưng bây giờ thì tôi cảm được nhận xét ấy không phải không có căn cứ. Praha là thành phố cổ kính còn nguyên vẹn nhất Âu châu, là “thành phố của trăm tháp vàng”, là “bài thơ bằng đá”, là khúc hát đắm say, là ly rượu nồng nàn, là bức tranh tuyệt mỹ, là mảnh thời gian còn sót lại. Năm 1992, Praha được công nhận là di sản văn hóa thế giới.

Theo truyền thuyết, hơn ngàn năm trước Praha được xây dựng từ sau giấc mơ của nàng công chúa Libuse về một thành phố lộng lẫy và vinh quang bên bờ sông Vltava. Thoạt tiên người ta cho xây pháo đài Vysehrad và Hradcany nay là thành cổ, Praha phát triển từng ngày, trong khi Hradcany dần thay thế vai trò của Vysehrad. Năm 1257 vua Premysl Otakar II cho xây thêm khu Mala Strana. Praha trở thành thủ đô lẫy lừng dưới triều hoàng đế Charles IV. Cây cầu Charles, nhà thờ Saint-Guy và khu Nove Mesto rộng lớn là những công trình tiêu biểu của thời kỳ nầy.

Trong suốt quá trình hình thành và phát triển, Praha là nơi hội tụ của nhiều trường phái nghệ thuật và kiến trúc, từ Roman, Gothique, Phục hưng, Baroque, Tân Gotic và cả phong cách Lập thể. Hầu hết các công trình kiến trúc đều được xây bằng đá hoa cương và được chạm khắc công phu, nghệ thuật. Nếu Praha là một bức tranh thì đó là bức tranh mà các nghệ nhân đã chuyền tay nhau tô vẽ trong suốt chiều dài lịch sử ngàn năm.

Và đây mới là điều kỳ diệu hơn cả: không như các thành phố khác của Âu châu, qua bao biến động lịch sử, dâu bể đời người, những cuộc chiến tranh tàn khốc, Praha chẳng suy suyển và khi bước ra khỏi Thế chiến thứ II, thành phố gần như nguyên vẹn thuở sinh thành.

Sông Vltava chia Praha thành hai nửa không đều nhau. Phía tả ngạn là khu vực đồi Strahov gồm Hradcany và Mala Strana. Đây là khu phố cổ như lâu đài Praha, hoàng cung, tu viện thánh George, ngôi đại giáo đường Thánh Vitus, cung điện mùa hè, nhà thờ chánh tòa… tất cả đều là những công trình tuyệt tác về kiến trúc và nghệ thuật.

Nhà thờ chánh tòa là biểu tượng của Cộng hòa Czech, là nơi còn lưu giữ vương miện và di hài của các đời vua Tiệp. Cũng tại đây, một tòa lâu đài cổ được dùng làm Dinh tổng thống; trụ sở của các Bộ, Ngành và khu ngoại giao đoàn. Bên bờ hữu ngạn là Stare Mesto –  khu phố cổ. Không xa với Stare Mesto là Nove Mesto – khu phố mới, trung tâm của Praha hiện đại với những đại lộ thênh thang và quảng trường Venceslas danh tiếng.

Khu phố cổ là nơi đô hội nhất: những con đường xe ngựa nho nhỏ, cong cong; những ngôi nhà ngót nghét ngàn năm tuổi, và quảng trường Staromestske Namesti chực bỏ bùa du khách. Nơi đây từng diễn ra các sự kiện lịch sử trọng đại.

Quảng trường được bao bọc bởi những đền đài, nhà thờ, khách sạn mà mặt tiền được trùng tu theo kiến trúc thời Baroque tuy đó là những công trình từ thế kỷ XI và XII theo kiến trúc Roman.

Tòa thị chính được xây dựng năm 1338 là công trình đẹp nhất của quảng trường nầy. Trên tháp tòa thị chính có chiếc đồng hồ Orloj mà trong suốt 500 năm, cứ tròn 1 giờ, chú gà trống trên nóc đồng hồ cất tiếng gáy, rồi 12 vị thánh tông đồ lần lượt dạo quanh một vòng như để giám sát cái trần thế dưới kia – Kiên trì với công việc nhàm chán ấy hẳn chỉ có các vị thánh mới làm nổi.

Người ta đồn rằng những ai nghe được tiếng gà gáy thì chuyến du lịch sẽ gặp toàn may mắn. Hèn chi cứ gần đến một vòng giờ, hàng ngàn du khách đổ về. Mấy cháu bé thành người khổng lồ trên vai bố mẹ. Những khuôn mặt thành kính dõi theo chiếc đồng hồ. Đến khi chú gà tắt tiếng gáy, và 12 vị thánh tông đồ kết thúc vòng quay, đám đông mặt mày rạng rỡ cũng vội vàng tan theo về phía những con đường ngạt ngào đang vẫy chào họ.

Ở một góc khác của quảng trường chói loà bức tượng thánh Jan Hus. Cộng Hòa Tiệp là đất nước xem ra ít anh hùng mà nhiều thánh nhân. Jan Hus là nhà cải cách vĩ đại từng chống lại tư tưởng giáo điều trong Giáo hội La Mã để rồi bị hỏa thiêu tại đây.

Quanh bệ tượng còn khắc ghi những câu nói nổi tiếng của ông như: “Chân lý cui cùng vn là chân lý”. Trước cường quyền bạo lực, ai trong chúng ta dám nói được thế!

Lang thang ở quảng trường nầy, dừng chân bên nhà hàng lộ thiên, nhâm nhi ly bia Tiệp, nhìn người qua lại cười cười nói nói….ma thoáng chợt nghĩ về những gì đã diễn ra cách nay ngàn năm qua. Vinh quang thay mồ hôi, nước mắt và máu đã đổ xuống để có kỳ quan hôm nay!

Từ quảng trường nầy, lòng người du khàch bắt đầu những ngày ngất ngây với Praha. Hướng dẫn viên của tôi là một cô gái nhỏ nhắn, dịu dàng và ít lời. Không như các hướng dẫn viên chuyên nghiệp dành hết thời gian để nói, cô chỉ điểm qua, nhường lại mênh mông sắc màu cho tôi tự khám phá, tự cảm nhận. Nàng là một trong ít người Việt Nam ở Praha hòa nhập được vào dòng chảy của nền văn hoá Czech. Trong mắt nàng hình như có cả một ngàn năm Thăng Long cùng với một ngàn năm Praha cộng lại.

Hôm đưa tôi đi qua rừng anh đào trên đồi Strahov, nàng nói “mùa xuân khi hoa anh đào nở”, rồi im bặt. Mãi sau tôi tình cờ hiểu ra, đồi Strahov có khu cư xá sinh viên. Lâu lắm nàng mới trở lại, bỗng bồi hồi nhớ về những hẹn hò mùa xuân 15 năm trước. Ôi tình yêu,  đẹp cả lúc trở thành kỷ niệm!

Rời Staromestske Namesti, cứ việc trôi theo dòng người trên đường Karlova cố cựu mà mỗi viên đá dành nhau kể chuyện, không bao lâu bạn sẽ tới nơi hò hẹn của mọi người: Cầu Charles. Cầu mang tên người đã khai sinh ra nó, vị vương quân để lại dấu ấn nhiều hơn bất cứ ai.

Cây cầu được xây năm 1357, bằng đá với 16 nhịp, dài hơn nửa cây số mà bề rộng của mặt cầu là 10 thước. Là kỳ quan kiến trúc thời trung cổ. Là một trong những chiếc cầu gây nhiều ấn tượng nhất Âu châu. Hai bên vai cầu được tô điểm bằng 30 pho tượng thánh. Mỗi pho tượng gắn liền với một huyền thoại. Ngày nay có hàng chục chiếc cầu bắc qua sông Vltava, nhưng trong suốt 500 năm trước, đây là chiếc cầu duy nhất nối liền đôi bờ.

Từ trên chiếc cầu huyền thoại nầy, bạn có thể chiêm ngưỡng cảnh quang vô cùng độc đáo của Praha: Dòng sông Vltava lặng lờ trôi, bầy hải âu chao liệng, những công trình kiến trúc đủ kiểu đủ dáng say sưa ngắm nghía dung nhan mình qua bóng nước dòng sông, tiếng vĩ cầm xao xuyến khúc Moldau, và hàng hàng lớp lớp những cặp trai thanh-gái lịch, tay trong tay trong niềm hạnh phúc như cái cỏi trần gian nầy chưa từng nghèo đói, chưa từng chiến tranh và thù hận.

Có phải vì thế người ta còn gọi là “Cầu Tình”? Ở lưng chừng cầu, du khách nối đuôi nhau để được đặt tay vào bức tranh dưới chân tượng thánh Jan Nepomucky. Chuyện kể rằng, ngày nọ có ông vua đến hỏi   Giám Mục Jan Nepomucky, “ngày nào hoàng hậu vợ ta cũng đến đây xưng tội, vậy hoàng hậu đã xưng tội gì?” Vị  Giám Mục  im lặng. Hết dụ dỗ đến hăm dọa, vẫn chỉ im lặng. Vua tức giận cho bắt vị  Giám Mục hành hình rồi ném xác xuống sông – khúc sông nay đặt tượng ngài. Dưới chân tượng có hai bức tranh bằng đồng, một bức cảnh hoàng hậu xưng tội, bức kia cảnh vị linh mục bị hành hình. Người ta nói rằng ai đặt tay vào một trong hai bức tranh và phát tâm cầu nguyện thì sẽ ước gì được nấy.

Từ trên đồi Strahov nhìn xuống thành phố, Praha với những ngôi nhà ngói đỏ, hàng trăm nóc đền vàng, những ngọn tháp cao vút, lộng lẫy như bức tranh phong cảnh thời Phục hưng.

Praha làm ta liên tưởng đến Rome hơn Paris. Nhưng thích nhất vẫn là từ thành phố nhìn lên đồi Strahov mỗi hoàng hôn, đặc biệt từ nhà hàng Slavia, nơi tổng thống Vaclav Havel thường dùng cơm chiều với mấy người bạn văn nghệ sĩ.

Tự cổ chí kim, văn nghệ sĩ bao giờ cũng rất nhạy cảm trước thời cuộc, người ta thường nói, tinh như dơi, sắt như gươm dao, rỗng như tre trúc, thẳng ro như tùng như bách, và chẳng màng chi mấy thứ danh lợi phù du. Ngồi với họ chỉ tổ nhức đầu. Vậy mà ông Havel nầy chịu làm tri kỷ tâm giao thì cũng đáng được gọi là xưa nay hiếm.

Nhà hàng Slavia bên bờ sông Vltava là góc nhìn tuyệt vời chỉ những nhiếp ảnh gia sành sỏi mới phát hiện ra. Buổi chiều, khi mặt trời vừa khuất sau dãy đồi Strahov, dòng sông Vltava dậy lên màu sáng bạc, trong khi lâu đài cung điện Praha kịp khoác lên mình chiếc áo đen huyền hoặc. Đẹp đến bồi hồi – Hình ảnh tòa lâu đài cổ dưới ánh tà dương bao giờ cũng gợi lên cảm thức huy hoàng đến rơi lệ!

Praha là thành phố của âm nhạc, mỗi khung trời, mỗi con đường, mỗi bước chân qua đều dạt dào âm hưởng dòng sông – Vltava như dòng kẻ nhạc lặng lẽ chảy qua thành phố rồi ngân lên giai điệu Praha say đắm lòng người.

Mozart từng một thời an trú ở đây. Ngôi biệt thự Vertramka nơi ông sáng tác vở opera nổi tiếng “Don Giovanni” nay là Bảo tàng Mozart vẫn còn lưu giữ nhiều kỷ vật và cây đàn piano ông từng chơi.

Trong những nhạc sĩ tài hoa của Czech tôi thích nhất Bedrich Smetana, tác giả của bản giao hưởng “My Country”  gồm 6 chương nói về vẻ đẹp tuyệt vời của quê hương đất nước ông.

Trong đó có đoản khúc “Moldau” chan chứa giai điệu dòng sông Vltava mà không một người Czech nào không biết – và bao giờ đó cũng là khúc mở đầu Festival âm nhạc quốc tế lớn tổ chức ở Praha vào mỗi mùa khi xuân về.

Nhiều hình thức trình diễn âm nhạc diễn ra hàng ngày ở các nhà hát, nhà thờ, quảng trường, cung điện, lâu đài… Những nghệ sĩ lang thang chơi nhạc khắp nơi trên các nẻo đường. Đâu đây tiếng phong cầm rạo rực lùa theo gió, vang vọng qua các dãy phố làm mềm bước chân ai, làm mềm những công trình bằng đá từng thi gan với tháng năm.

Praha bây giờ lá đã chuyển màu và bắt đầu rụng rơi theo gió. Cuộc đời là thế, có rồi không, hợp rồi tan. Nay Praha đã xa tôi…. Ôi, lịch sử con người bé nhỏ vậy sao! Trong số ít ỏi kỷ vật tôi mang theo khi rời Praha có CD bản giao hưởng “My Country” của Bedrich Smetana, mỗi lần mở ra nghe lại mà tưởng như Praha mãi trong tim, và con sông Vltava đang dào dạt chảy qua căn phòng mình.

Giai Dieu Praha (Prague) 07/16 by AV Travel | Blog Talk Radio.

 Nguyn Văn  Dũng

Photos: 

View of Vltava in the Prague city center by Che
View of the bridge tower & Charles Bridge of Malá Strana in Prague, Czech Republic by Massimo Catarinella
Astronomical Clock by Krzysiu “Jarzyna” Szymańs
Featured Image: A panoramic view of Prague from Petřín Lookout Tower by David Iliff 

Salzburg, Austria

Sân Khấu Của Thế Giới

Năm 1997, Cộng hòa Áo đã có hai danh thắng nổi tiếng được chọn vào danh sách Di Sản Thế Giới của UNESCO: Cung điện Schönbrunn của bà hoàng Maria-Theresa lừng danh Châu Âu một thuở, và khu phố cổ tại Salzburg, thành phố lớn thứ tư của nước Áo, quê hương của thiên tài âm nhạc Mozart, nổi tiếng với lịch sử văn hóa, âm nhạc và kiến trúc Baroque lừng lẫy.

Nằm giữa lòng Trung Âu, là thủ phủ của tiểu bang cùng tên, Salzburg có lịch sử rất lâu đời kể từ thế kỷ thứ V. Thành phố này có một tu viện bề thế mang tên Thánh Peter (Phêrô) và cái tên Salzburg được nhắc đến lần đầu trên văn bản, giấy tờ từ năm 755.

Cuối thế kỷ XI, một pháo đài hùng vĩ đã được xây dựng tại đây cho các mục đích quân sự: mang tên Hohensalzburg, đây là công trình kiến trúc lịch sử lớn nhất của Trung Âu thời Trung Cổ vẫn được giữ cho đến nay một cách khá toàn vẹn.Salzburg Hohensalzburg at night

Năm 1756, con dân lừng danh nhất của vùng đất này chào đời, và được thế giới biết đến với danh hiệu “thần đồng âm nhạc” Wolfgang Amadeus Mozart. Trong vài chục năm cuối thế kỷ 18, Salzburg đã trở thành trung tâm của thời kỳ khai-sáng, thu hút nhiều đại diện lớn của khoa học và nghệ thuật.

Năm 1921, cư dân thành phố đã trải qua một cuộc trưng cầu dân ý, để quyết định Salzburg sẽ thuộc về đế chế Đức, hay ở lại với Áo Quốc. Salzburg đã ở lại, để ngày nay, Áo Quốc có thể tự hào với một thành phố có tới 4.000 sự kiện văn hóa hàng năm, thu hút du khách khắp nơi.

Nói đến Salzburg, trước tiên, phải nhắc đến một thành phố xinh đẹp và thơ mộng với những kiến trúc lịch sử của rất nhiều thời đại. Người dân ở đây thường tự hào cho rằng, hầu như không có giai đoạn lịch sử nào lại không để lại những di tích kiến trúc đáng kể tại Salzburg.

Du khách tới thăm thành phố, có thể và rất nên đi dạo, khám phá những con lộ nhỏ ngoằn nghèo trong khu phố cổ, để tìm lại dấu ấn quá khứ qua những kiến trúc Trung Cổ, thời Lãng Mạn, Phục Hưng, Baroque, cũng như thời của những quý tộc vương triều Áo Quốc cách đây 1, 2 thế kỷ.

Cần nhấn mạnh là từ năm 1973, phần lớn khu phố cổ trở thành nơi dành riêng cho người đi bộ. Ðặc biệt, Salzburg cùng hệ đồi, núi trong và ngoài thành phố hầu như vẫn giữ được nguyên trạng tự nhiên, nên đây là một đô thị có nhiều cây xanh nhất vào bậc nhất của Châu Âu.

Biểu tượng của thành phố, thành cổ Hohensalzburg với 10 thế kỷ sau lưng, vẫn sừng sững “trơ gan cùng tuế nguyệt”. Với hệ thống phòng thủ hoàn hảo, từng được coi là một pháo đài bất khả xâm phạm từ thời Trung Cổ, kinh qua bao trận chinh chiến, ngày nay du khách đến thăm thành sẽ thấy bộ mặt hiền hòa của nó với một bảo tàng viện và những dấu ấn thuở xưa.

Những ai đam mê du ngoạn để thưởng thức bóng dáng ngày xưa qua những công trình kiến trúc, sẽ phải hài lòng khi tới thăm lâu đài Hellbrunn với vườn hoa lâu đài và các đài phun nước, cùng quang cảnh vườn hoa chung quanh đại lộ Hellbrunn, được xem như đại lộ lâu đời nhất thế giới.

Và nếu đã nói đến những cái “nhất” của Salzburg, phải kể thêm hầm xe cơ giới lâu đời nhất của Áo và tuyến đường sắt leo núi có dây kéo lâu đời nhất thế giới. Xét về mặt tín ngưỡng, Salzburg có Tu viện Thánh Peter (Phêrô) là tu viện lâu đời nhất và hiện vẫn còn tồn tại cùng như Tu viện Nonnberg, là nữ tu viện lâu đời nhất thế giới.

Cũng không thể không nhắc đến Nhà thờ Chính tòa Salzburg, xây đầu thế kỷ 17, là nhà thờ Baroque đầu tiên phía Bắc dãy núi Alps, sừng sững và uy nghi tỏa bóng dưới những rặng núi xa mờ.

Salzburg, kế đó, còn là một vương quốc của âm nhạc. Gần một ngàn năm trước khi Mozart chào đời thành phố này đã nổi tiếng về âm nhạc. Tương truyền, từ năm 870, nghe tiếng Salzburg, Giáo hoàng Johannes VIII đã phải nhờ cậy vị tổng giám mục ở đây gửi về Tòa Thánh một cây đàn ống cùng người chơi đàn để phục vụ.

Tuy nhiên, vĩ nhân đáng kể nhất trong truyền thống âm nhạc của đô thị này, vẫn là Wolfgang Amadeus Mozart, người mà thế giới trong năm 2011 mừng lễ kỷ niệm 255 năm ngày ông chào đời và đúng 220 năm ngày ông qua đời. Salzburg đã chứng kiến cuộc đời và một phần sự nghiệp của Mozart, từ khi ông viết tác phẩm đầu tiên năm lên 5 tuổi. Trong 35 năm của đời mình, nhà soạn nhạc thiên tài này đã sáng tác 626 tác phẩm, với phong cách của một kẻ lãng tử: ông có thể nảy ra ý nhạc ở bất cứ đâu, khi đi đường hoặc chơi trò billiard (bi-da) mà ông ưa thích. Vượt không gian và thời gian, các bản nhạc của Mozart vừa mang tính phổ quát, lại vừa chứa đựng những nét rất riêng, không thể pha trộn, của một thần đồng.

Mozart's birthplace in SalzburgNgày nay, khách đến thăm Salzburg, thế nào cũng phải ghé thăm hai ngôi nhà, nay đã trở thành các bảo tàng viện, nơi Mozart đã chào đời và nơi ông sống về sau, khi đó được gọi bằng cái tên “nhà của thầy khiêu vũ”, bởi lẽ thời ấy, người ta đã chính thức cho phép dạy khiêu vũ cho giới quý tộc tại đây.

Trong số nhũng hiện vật quý giá nhất tại hai ngôi nhà này, phải kể đến cây vĩ cầm Mozart chơi thời niên thiếu, rồi cây đàn ông biểu diễn tại các concert, hay chiếc đàn dương cầm cũ mà ông đã sáng tác những bản nhạc đầu đời. Cạnh Mozart, âm nhạc ở Salzburg, còn là bản “Đêm Thánh Vô Cùng” (Silent Nitght) thường vang lên khắp thế giới trong các dịp Giáng sinh: hai tác giả của bài ca gần gũi với người Việt này, linh mục Josef Mohr và nhạc công Franz Xavier Gruber, cũng là các con dân của Salzburg. 

Và, Salzburg còn nổi tiếng với bộ phim âm nhạc “The Sound of Music” với sự thủ diễn của nữ tài tử Julie Andrews, từng được đề cử 10 Tượng vàng Oscar và đã nhận được 5 giải vào năm 1965. Phim dựa trên vở nhạc kịch cùng tên, rất được ưa chuộng, của sân khấu Broadway, được quay ở những tụ điểm đáng ghi nhớ nhất của Salzburg, và du khách tới thăm thành phố này, nhiều người đã dự một tour thăm lại những tụ điểm đó, để hoài niệm bầu không khí của một thời.

Nhiều người, khi nhắc đến Salzburg, đã gọi đây là “sân khấu của thế giới”, hay một cách khác, “thế giới của những sân khấu”, vì chuỗi ngày hội âm nhạc thường niên, đã có lịch sử từ hơn 90 năm nay.

Vào năm 1920, một số nhạc sĩ, nhà tổ chức âm nhạc nảy ra ý định mời các danh ca, các nhạc công nổi tiếng nhất của Châu Âu đến Salzburg thủ diễn trong các vở nhạc kịch, vũ kịch cổ điển, để biến thành phố này thành một trung tâm của văn hóa cổ điển thế giới.

Ý tưởng ấy đã trở thành hiện thực: trên quê hương của Mozart, trong khoảng thời gian cuối tháng Bảy và cả tháng Tám hàng năm, có gần 200 chương trình âm nhạc được tổ chức, cuốn hút vài trăm ngàn khách mộ điệu, trong số đó, có không ít người đến từ phương xa.

Salzburg luôn hấp dẫn, thơ mộng đối với những trái tim còn biết yêu! Ðó là một trong những trung tâm văn hóa đáng kể nhất của Châu Âu, với những nhà thờ, thành quách, cung điện và lâu đài, luôn hàm chứa những hấp dẫn mà các tour du lịch vùng Trung Âu không thể bỏ qua!

Diễm Thi

Images:

View of Fortress, 2006 by Jonathan White.
Night-time view featuring the Festung Hohensalzburg in the background and Residenz Square, 2006 by Jonathan White.
Mozart’s birthplace at Getreidegasse 9, 2006 by Jonathan White.
Salzburg sunset, 2012 by Michael Lechner.
View of shoppers on “Getreidegasse”, the oldest streets in Salzburg, by Snotty.
Featured Image: City of Salzburg (Austria) with its old town and its fortress, view from Mönchsberg, 2011 by Taxiarchos228.

Ludwig van Beethoven – Online Radio

Portrait of Beethoven

Ngồi lẻ trong trăng lạnh, xa xa tiếng nhạc buồn, người mang nỗi buồn thường thức khuya, thức khuya một mình trong ánh trăng đêm. Từng ánh trăng hắt xuống bao phủ ta như đang an ủi ta trong nỗi cô đơn bóng lẻ nhưng cũng chính ánh trăng đêm ấy làm cho ta thấy rõ ta đang một mình. Phải chăng đó đã từng là tâm trạng của Ludwig Van Beethoven khi viết bản Sonata số 14 cho đàn piano (Moonlight) hay tạm dịch là bản Sonata Ánh Trăng,  mời quí vị cùng Việt Hùng  đến với thế giới âm nhạc.

Chương trình Vòng Quanh Thế Gii phát thanh trên mng do AV Travel thc hin.

Chương trình phát ngày 11 tháng 10, 2012 lúc 11g sáng (giờ miền Tây Hoa Kỳ)

Xin bm vào link dướđây đ nghe và ph biến cho bn bè, người thân.

 Ludwig van Beethoven 10/11 by AV Travel | Blog Talk Radio.

Bài viết về “Ludwig van Beethoven”

Ludwig van Beethoven

Ludwig van Beethoven sinh ngày 16 tháng 12 năm 1770 tại Bonn, một thành phố thuộc miền Tây nước Ðức, trung tâm văn hóa của nước Ðức thời bấy giờ. Xuất thân từ gia đình có truyền thống âm nhạc, Beethoven đã bộc lộ rõ tài năng đặc biệt về âm nhạc, chẳng hạn như mới lên 3, lên 4 tuổi, cậu bé Ludwig đã chú ý nghe rồi bắt chước lại những gì nghe được từ người cha trong các nốt nhạc và hòa âm.

Nhận thấy tài năng bẩm sinh của cậu con trai, người cha là Johann Beethoven bắt đầu dạy con và muốn con mình sẽ trở thành một thần đồng âm nhạc thứ hai sau Mozart.Thirteen-year-old Beethoven

Năm lên 8 tuổi Ludwig van Beethoven đã trình diễn trước công chúng. Ngoài sự khổ luyện âm nhạc, cậu bé Ludwig còn phải học thêm ngoại ngữ và đến năm 12 tuổi đã chơi thành thạo đàn piano, vĩ cầm (violin) và organ.

Cùng với hoài bão và những lời khuyên của một số nhạc sĩ thời bấy giờ, Beethoven quyết định lên đường đi Vienna thủ đô nước Áo quốc để gặp Mozart. Năm 1787, thủ đô Vienna lúc đó được mệnh danh là trung tâm văn hóa Âu châu cho nên việc để xin gặp được Mozart không phải dễ nhất là vào lúc đó vở nhạc kịch Don Giovanni của Mozart đang hưng thịnh. Tuy nhiên với tài năng của mình Beethoven đã chiếm ngay được cảm tình, sự quý trọng từ Mozart và hứa sẽ nhận Betthoven làm học trò.

Chẳng được bao lâu trước tin vui được làm học trò của Mozart, Beethoven nhận được tin thân mẫu đang hấp hối và vì vậy mọi việc đành gác lại để trở về Bonn. Không gì đau khổ hơn là khi về đến nơi được vài ngày thì người mẹ mà Beethoven yêu quý nhất đã qua đời. Ít lâu sau, lại thêm một đám tang nữa đến với gia đình là sự ra đi của người em gái.

Ðứng trước trách nhiệm cao cả của gia đình là kế sinh nhai của mấy người em trong già đình, Beethoven quyết định ở lại Bonn để nuôi các em và đây là sự quyết định đầy cao cả mà sau này ông đã tâm sự, rằng đó là thời kỳ khủng hoảng, một giai đoạn nặng nề nhất của thời niên thiếu, nhưng cũng chính vì “biến cố” này mà Beethoven đã rèn được nghị lực và ý chí vươn lên trong sự cảm thông của những người thuộc vào tầng lớp nghèo trong xã hội.

 Năm 1789, không chỉ sáng tác và trình diễn, khi cuộc cách mạng nổ ra tại nước Pháp, Beethoven cũng được nhận vào khoa triết trường đại học tổng hợp Bonn. Cũng tại nơi đây việc học của ông bị dang dở vì luồng tư tưởng: “ tự do, bình đẳng, bác ái ” của ông cùng một số sinh viên khác gặp phải sự chống đối mạnh của nhà trường, vì vậy chàng thanh niên 19 tuổi phải gác lại những hoài bão của mình và chính vì vậy những âm hưởng từ cuộc cách mạng Pháp và tính triết lý đã bộc lộ rõ trong những giai điệu, những tác phẩm của Beethoven.

Trong cái rủi có cái may, dù bị đuổi khỏi trường nhưng may mắn đã đến với Beethoven khi gặp được Joseph Haydn, một nhạc sĩ rất nổi tiếng thuộc trường phái cổ điển Vienna. Cá nhân Haydn đã nghe Mozart nói nhiều về Beethoven và hứa sẽ dạy ở Vienna.

Nhiều nhạc sĩ cùng thời với ông đã phải thốt lên rằng, phải chăng cuộc đời Beethoven luôn luôn bất hạnh và luôn luôn hạnh phúc đó có phải là số mệnh của ông hay không mà mỗi khi nhận được tin vui thì lại có ngay tin buồn. Sau khi gặp và Haydn hứa sẽ dạy thì cái tin bất hạnh lại đến vào ngày 6 tháng 12 năm 1791 Mozart qua đời, hoài bão được làm học trò của Mozart đã không bao giờ trở thành hiện thực nữa.Beethoven's Signature

Lại một lần gạt nước mắt trở lại Vienna vào mùa cuối Thu năm 1792 tức là sau gần 1 năm kể từ ngày Mozart qua đời. Khác với lần trước tới Vienna, lần này Beethoven được đánh giá là một nghệ sĩ chơi đàn piano và là một nhạc sĩ có tài. Những tư tưởng mang tính cách mạng bộc lộ rõ trong con người ông, khiến chính Haydn lúc đó cũng không tiếp tục dạy Beethoven nữa vì những ý tưởng cách mạng quá táo bạo trong sáng tác trong khi tại Vienna lúc đó tư tưởng bảo thủ, cứng nhắc trong giới quí tộc vẫn bao trùm trong đời sống âm nhạc và nghệ thuật.

Năm 1796 Beethoven có triệu trứng bị điếc, năm 1801 dù cố tìm cách chữa chạy nhưng bệnh điếc của ông ngày càng trở nên trầm trọng và cũng chính trong thời kỳ này, tình yêu của ông “chớm nở” với nữ bá tước Giulietta Gucciardi,  cô học trò có vẻ đẹp “mê hồn”, theo như lịch sử âm nhạc thế giới còn ghi lại.

Ông yêu cô học trò dòng dõi quí tộc này và dù bị điếc nhưng ông vẫn sáng tác để tặng cô bản Sonata số 14 ( Moonlight ) hay còn được gọi là bản Sonata “Ánh Trăng ”.  Sở dĩ tại sao lại được gọi là bản Sonata Ánh Trăng là do nhà thơ người Ðức Ludwig Rellstab, cùng thời với ông đặt tên và sau này mọi người theo thói quen nên gọi như vậy.Ludwig Beethoven Manuscript

Trở lại với tình yêu mà Beethoven dành cho cô học trò và cũng là Bá tước Giulietta Gucciardi này đã không thành và bệnh tình càng thêm nặng, ông bỏ về sống ẩn dật tại một vùng quê gần Vienna trong sự đau khổ vì tình yêu.

Bản Sonata Ánh Trăng, Beethoven viết vào năm 1801 dưới dạng tự do, tức là hoàn toàn không tuân thủ theo những cấu trúc của một bản Sonata thường thấy trong trường phái cổ điển. Những giai điệu trữ tình, có âm hưởng lãng mạn, nhẹ nhàng chuyển động như những lời thủ thỉ của một chàng trai bên người tình khi màn đêm buông xuống hay nói khác đi, như những lời tỏ tình âu yếm, vuốt ve trong sự nhung lụa, nhưng đâu đó vẫn mang vẻ mơn trớn chiều chuộng xa hoa.

Sự thay đổi trong giai điệu, uyển chuyển, mang vẻ thầm kín được thể hiện dưới dạng Adagio làm nền cho những âm điệu chùm 3, thể hiện như bước chân người đi, bước cao, bước thấp theo ngẫu hứng và như lời than thở của một người đang yêu, đã yêu và sẽyêu nhưng bị chối từ tình yêu.

Qua bao thế kỷ, bản Sonata Ánh Trăng chẳng bao giờ tỏ mà cũng chẳng bao giờ mờ vì ngay chính tác giả của nó cũng chẳng bao giờ tìm được tình yêu cho chính mình và vì vậy nhân loại vẫn mãi mãi cần tới xônát Ánh Trăng như muốn tìm cho mình một niềm hạnh phúc chưa bao giờ có.

Beethoven's Grave in Zentralfriedh of Vienna

Ludwig van Beethoven 10/11 by AV Travel | Blog Talk Radio.

Việt Hùng

Photos:
Featured Image: Portrait of Ludwig van Beethoven when composing the Missa Solemnis. Artist: Joseph Karl Stieler (1781-1858)
House of birth Ludwig van Beethoven, Bonn/Germany, Bonngasse, 2008, Sir James
Beethoven Monument in Bonn.
Beethoven Signature
This portrait in oils is the earliest authenticated likeness of Beethoven. Photograph taken by the author of the painting in Die Sammlung alter Musikinstrumente, Kunsthistorisches Museum, Wien. 2006-08-24

Giai Điệu Praha (Prague) – Online Radio

The Old City Center of Prague

The Old City Center of Prague

Praha là thành phố cổ kính còn nguyên vẹn nhất Âu châu, là “thành phố của trăm tháp vàng”, là “bài thơ bằng đá”, là khúc hát đắm say, là ly rượu nồng nàn, là bức tranh tuyệt mỹ, là mảnh thời gian còn sót lại. Năm 1992, Praha được công nhận là di sản văn hóa thế giới.

Chương trình Vòng Quanh Thế Giới phát thanh trên mạng  do AV Travel thực hiện.

Xin bm vào link dưới đây đ nghe và ph biến cho bn bè, người thân.

Giai Dieu Praha (Prague) 07/16 by AV Travel | Blog Talk Radio.

Bài viết về Giai Điệu Praha (Prague), Hungary